Họ Hoàng trên núi Bà (Đen) – Tuyên Quang

PHẦN THỨ HAI
CỤ THƯƠNG TỔ HOÀNG CÔNG EM VÀ CỤ TỔ HOÀNG CÔNG DŨNG ĐỊNH CƯ VÀ PHÁT TRIỂN Ở SƠN DƯƠNG.

I. Về lịch sử và thời gian.

Như trên đã trình bày, do di cư sang Sơn Dương, nên về thời gian và không gian mới, đương nhiên, phải được xác định theo huyết thống. Vì thế, cụ ông Hoàng Công Em từ Lạng Sơn sang Sơn Dương được xác định là Thủy Tổ, là Gốc Tổ họ Hoàng ở thôn Tứ Thông (xã Hợp Thành) và Làng Lầm (xã Tuân Lộ), huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Kể từ đây, cụ ông Hoàng Công Em và cụ bà Chu Thị Lập được coi là Đời thứ nhất-Thủy Tổ-Gốc Tổ họ Hoàng và con trai của cụ Hoàng Công Em là ông Hoàng Công Dũng được gọi là Đời thứ hai-Thượng Tổ-Cụ Tổ của Nhánh họ Hoàng định cư và lập nghiệp ở thượng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Cụ ông Hoàng Công Dũng (Đời thứ hai-Thượng Tổ-Cụ Tổ) kết hôn với cụ bà Nông Thị Nở và ở rể nhà mẹ vợ là gia đình cụ Hứa Thị Tiền.

Vì thế, hiện tại trên Khu mộ Gia Tộc họ Hoàng ở núi Bà Đen, thôn Tứ Thông, xã Hợp Thành (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) ngoài mộ chí của cụ Thủy Tổ-Gốc Tổ là Hoàng Công Em và Chu Thị Lập (Đời thứ nhất); mộ chí của cụ Hoàng Công Dũng và cụ bà Nông Thị Nở (Đời thứ hai-Thượng Tổ-Cụ Tổ), còn có mộ chí của Cụ ngoại là bà Hứa Thị Tiền thân mẫu bà Nông Thị Nở và mẹ vợ ông Hoàng Công Dũng.

Hàng năm vào ngày 25 tháng 10 âm lịch Giỗ Tổ họ Hoàng ở Tứ Thông và Tuân Lộ huyện Sơn Dương (lấy theo ngày chuyển hài cốt năm cụ về lập mộ tại núi Bà Đen) có cúng giỗ cụ Hứa Thị Tiền như một thành viên trong Gia Tộc họ Hoàng.

Như trên đã viết, khu mộ Tổ họ Hoàng có năm ngôi mộ, trên đó có xây một cây hương, gồm 04 cột trụ, có hai tầng và mái lợp. Hai bên cây hương ở Khu mộ Tổ họ Hoàng có hai câu đối do hậu duệ đời thứ 6 tạo lập. Nội dung hai câu đối như sau:

Tổ Tông Hoàng Tộc Thiên Niên Thịnh” (vế bên trái)

Lưu Truyền Đức Đạo Vạn Thế Vinh”  (vế bên phải).

Hai cụ Hoàng Công Dũng và Nông Thị Nở, sinh ra Đời thứ 3 (ở Sơn Dương) được ba người con, hai con trai là ông Hoàng Văn Bài (18…???), ông Hoàng Văn Thông (1881-1950) và một con gái là bà Hoàng Thị Ghẻ (1890-1956).

Di ảnh cụ bà Hoàng Thị Ghẻ (Đời thứ 3 ở Sơn Dương) hiện nay lưu giữ tại nhà con cháu ông Ma Văn Hạ (bà Nguyệt) và Ma Văn Điều (Bà Điều) là  nơi thờ cúng dòng họ Ma và mới được phát hiện vào sáng ngày 24/10/Tân Mão (2011) do đi mời giỗ Tổ họ Hoàng đã được hậu duệ Đời thứ 6 là Hoàng Nguyên Hồng và Hoàng Văn Hào đã ghi lại.

Biết được năm sinh của anh trai là cụ ông Hoàng Văn Thông sinh năm 1881, mất năm 1950 và em gái là cụ bà Hoàng Thị Ghẻ sinh năm 1890, mất năm 1956 là thông tin rất quan trọng; bây lâu nay, con cháu chưa sưu tầm được. Riêng cụ Hoàng Văn Bài chưa biết năm sinh, chỉ biết ngày giỗ là 25 tháng 7 âm lịch hàng năm, chưa biết năm mất, cần tiếp tục tìm kiếm.

II. Địa linh ổn cư và lập nghiệp.

Như trên đã lược ghi, có thể từ cụ Hoàng Công Em (Thủy Tổ-Gốc Tổ) hoặc cụ Hoàng Công Dũng (Thượng Tổ-Cụ Tổ) đã có ý định mở rộng vùng đất mới, không gian sinh sống. Có thể bằng lao động khai phá, hoặc theo con đường hôn nhân gia đình, nuôi dưỡng, quan hệ thân tộc nên có sự di chuyển từ vùng rừng núi Bình Yên, Lương Thiện (Tức Thiện) hay xóm Thác Dẫng, xã Phượng Liễn xưa, nay là thôn Lập Binh, xã Bình Yên về định cư ổn định, khai phá đất đai và lập làng tại thôn Tứ Thông (Bình Phú), xã Hợp Thành ngày nay.

Người xưa nói: “Địa linh sinh nhân kiệt”. Có thế các cụ thấy địa lý, sơn thần, phong thủy đất này tốt, cư dân bản địa thân thiện, nên đã chọn làm nơi định cư và lập nghiệp. Ngược lại, cũng có thể chính các cụ đến đây khai khẩn vùng đất hoang hóa tự nhiên thành“địa linh”và hòa nhập với cư dân bản địa, nên ở lại định cư và lập nghiệp. Từ đó, mới đặt tên làng là Tứ Thông xưa, Bình Phú sau này.

Về tên gọi làng Tứ Thông. Theo ông Ma Văn Lùng (con trai cụ Ma Văn Bình) cho biết, được cụ Bình kể lại: Cụ nội Hoàng Văn Bài là một trong bốn người ở 4 dòng họ khác nhau (4), là họ Hoàng (ông Hoàng Văn Bài), họ Ma (ông Ma Văn Bất), họ Ma nhánh hai (ông Ma Văn Cương) và họ Lương, lập nên Làng Tứ Thông. Thời đó, bốn người này là những người có học thức, giỏi võ, nói năng hoạt bát, có quan hệ rộng rãi với dân trong Làng và các quan  ngoài Tổng, biết tính toán và chăm chỉ làm ăn. Do đó, đã đến khai khẩn vùng rừng núi âm u, heo hút, ma thiêng nước độc thành ruộng nương trù phú. Các cụ lấy vợ người địa phương, lập làng, lập thôn, sinh con đẻ cháu được mọi người kính trọng. Dân làng lấy nghĩa khí và bản lĩnh, tính cách hoạt bát, trí thông minh và sự làm ăn cần mẫn, phát đạt của bốn người trong bốn dòng họ mà đặt tên là làng Tứ Thông cho mảnh đất này. Còn Bình Phú là Bình yên và Phú quí. Từ đó, mảnh đất dưới chân núi Bà Đen có tên gọị là Tứ Thông-Bình Phú. Tức bốn người thông thái đến đây lập nghiệp, làm ăn phát đạt và giầu có. Bởi thế, trong làng còn lưu truyền câu  nói : « Anh hùng tự khởi Tứ Thông lưu » đến ngày nay.

Theo lời kể của ông Hoàng Văn Bàn con trai cụ Hoàng Văn Văn ngày 16/10/2005 cũng xác nhận, khi còn nhỏ đã được nghe các cụ truyền nhau câu nói: “Anh Hùng tự khởi Tứ Thông lưu”. Như vậy, tên Làng Tứ Thông là thể hiện bốn (tứ) dòng họ Ma-Hoàng-Lương-Ma được lưu danh muôn đời!

Đó là theo chuyện kể, còn hiện nay, trên mảnh đất“Anh Hùng tự khởi Tứ Thông lưu”, trong các dòng họ Ma-Hoàng-Lương-Ma nhiều thế hệ con cháu sinh sống ổn định, làm ăn phát đạt, học hành tiến bộ, đi lập nghiệp ở các vùng, các tỉnh thành trong cả nước.  Riêng con, cháu họ Hoàng nhiều người học hành có bằng cấp cao, làm ăn thành đạt, nhiều người tham gia công tác chính trị-xã hội từ xã đến Trung ương. Một số đi lập nghiệp ở các tỉnh thành trong toàn quốc, kể cả ra nước ngoài. Được như thế là nhờ con cháu biết chăm lo mồ mả, gia trạch và tu luyện bản thân; tự học tập và vươn lên từ gian khổ, biết kế thừa và phát huy nền nếp gia phong, gia lễ và gia huấn truyền đời nhiều thế hệ họ Hoàng lưu lại. Đó là nhờ  phúc lớn tổ đường và cát tường gia trạch, gia tiên họ Hoàng.

Hiện tại trên ban thờ ở nhà con trai thứ hai của ông Hoàng Văn Bàn (Trưởng tộc Cành họ Hoàng ở Tứ Thông) là Hoàng Văn Bằng (Hậu duệ đời thứ 6) còn lưu giữ được bức “Y môn” từ xưa để lại, có tuổi thọ hơn trăm năm. Ba tấm vải thổ cẩm (một ngang, hai dọc) của y môn được thêu chữ nho bằng chỉ kim tuyến, ngũ sắc (5 màu) với hình tượng Long, Ly (Lân hay Kỳ Lân), Quy, Phượng (tứ linh, bốn con vật thiêng) rất công phu, tinh sảo và mỹ thuật. Bức“y môn” trên đã được ông Bùi Thành Phần, cựu Bí thư Quân ủy Ba Đình (Hà Nội), con một nhà Nho, đã từng học ở Trung Quốc, lược dịch từ tháng 9/2006 có nội dung như sau:

Bên phải, ban thờ nhìn ra :“Tứ thời Xuân tại Thủ”. Nghĩa là Bốn Mùa, Xuân đứng trước. Tâm hồn phải thanh xuân và Trí tuệ phải thanh xuân. Tâm  óc phải tươi trẻ như mùa xuân.

Bên trái, ban thờ nhìn ra: “Ngũ Phúc Thọ Vị Tiên”. Nghĩa là Năm cái Phúc thì Thọ (sức khỏe) làm đầu. Tức là Thân thể phải thanh xuân.

Đọc nôi dung bức « Y môn » suy ngẫm mới ngô ra, cuộc đời mỗi con người luôn mong muốn đạt được “ngũ phúc” (Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh) trong cả Bốn Mùa. Gia tộc họ Hoàng chọn Mùa Xuân đứng đầu; có nghĩa là đời người quan trọng nhất là Thời trẻ, như mùa xuân. Muốn thành người, con người phải bắt đầu từ khi còn trẻ, từ Mùa Xuân cuộc đời. Sức sống và sức mạnh của tuổi trẻ là « Hữu chí Tất thành » (có chí sẽ làm nên). Do đó, phải học tập, rèn luyện, lao động và tích lũy từ khi còn trẻ, từ nhỏ đến lớn.

Công việc của một năm và cuộc đời của một con người phải bắt đầu khởi lập từ Mùa Xuân, từ khi Còn trẻ. Đây là thời kỳ có nhiều tiềm năng, có sức sống và nghị lực đảm bảo cho sự phát triển và thành đạt cho cả cuộc đời. Bởi thế, Tổ Tiên họ Hoàng, chọn Mùa Xuân, tượng trưng cho Tuổi trẻ cuộc đời một con người, là quan trọng nhất. Đó là lời di huấn truyền lại, lưu truyền cho con cháu các thế hệ họ Hoàng nhân biết và làm theo là như vậy !

Thọ Vị Tiên là Sức Khỏe. Con người muốn sống và làm nên sự nghiệp, điều quan trọng nhất là phải có sức khỏe. Sức khỏe là hàng đầu, là sức sống thể hiện sự cường tráng và phong độ. Trong một đời người Sức khỏe là hàng đầu và Trí tuệ là thứ hai, các thứ khác là thứ yếu. Do đó, để có sức khỏe, bản thân phải tự rèn luyện và tự học tập về thể lực và trí lực để tồn tại và phát triển trong tự nhiên và xã hội. Con Người có khoẻ mạnh về thể lực và có trí lực, thì tầm nhìn mới rộng mở, tâm hồn mới trong sáng, trí lực mới minh mẫn, có bản lĩnh và dũng khí hành động. Có sức khỏe và trí tuệ mới có ý chí và nghị lực làm ra của cải, tiền bạc để nuôi sống bản thân và mọi người.

Đó là những lời nhắn gửi, răn dạy, là Gia tài và Gia Bảo, là tinh hoa Văn hóa Tinh thần và Tín ngưỡng của Tổ Tiên Gia Tộc họ Hoàng di huấn truyền lại. Hậu duệ các thế hệ con cháu họ Hoàng phải Suy nghĩ và Hành động có Tâm, có Tuệ, có Trí và có Tầm như Tổ Tiên xưa. Từ đó, lập trí, lập ngôn và lập thân, tự khẳng định mình và mở rộng tầm mắt, vươn ra khắp muôn phương lập thân và lập nghiệp, để tồn tại và phát triển trong thế giới đầy mâu thuẫn và nghịch lý.

Một lần nữa nên hiểu «Tứ thời Xuân tại Thủ, Ngũ Phúc Thọ Vi Tiên » là trí tuệ nhiều đời, là gia bảo và vốn qúi, là nguồn tài sản lớn và vô giá, là sức mạnh tinh thần và niềm tin tín ngưỡng của Tổ Tiên Gia Tộc họ Hoàng để lại cho các thế hệ con cháu đời nối đời họ Hoàng lưu giữ và tiếp tục kế nghiệp và phát triển.

Bức «Y môn » với nội dung «Tứ thời Xuân tại Thủ, Ngũ Phúc Thọ Vi Tiên» là gia bảo quí và kỷ vật linh thiêng của dòng họ Hoàng. Nhưng, tiếc rằng, khoảng cuối năm 2012 đầu 2013, bức « Y môn » trên đã bị tháo xuống và hủy mất. Ở đây có phần, do không hiểu được nội dung và giá trị lịch sử, văn hóa tín ngưỡng hoặc do một tác động nào đó, nên người con dâu thứ hai (hậu duệ đời thứ 6) của ông Hoàng Văn Bàn khi quét sơn lại tường nhà, đã bỏ mất bức « Y môn » có tuổi khoảng hơn 140 năm và 145 năm (tính đến 2010)

Về thờ cúng gia tộc họ Hoàng khi xưa (trước tháng 10 năm 1947) tại nhà cụ Hoàng Văn Bài, ngoài bức «Y môn » trên, còn có hoành phi, câu đối, khảm trai trên gỗ quí được tranh trí trong nội thất ngôi nhà.

Bài trí nội thất, gian giữa đặt Ban thờ có tam bảo và án hương, đồ thờ bằng gỗ  mít, sơn son thiếp vàng. Hai bức «Y Môn » treo hai bên, giáp án thờ; bên trên án thờ là hoành phi; hai bên ban thờ là câu đối, ốp vào cột nhà. Đặc biệt, có hai câu đối với nội dung răn dạy con cháu « Ấu học, lớn hành ». Muốn thành người phải « Tiên học Lễ, Hậu học Văn ». Học làm người « Thành Nhân rồi mới Thành Thân ». Học để lập trí (có tâm sáng, ý chí và lý trí), lập ngôn và lập thân (học ăn, học nói, học gói, học mở, học đi, học đứng, học ngồi, học nằm…) để thành người. Hành động bằng trái tim và khối óc, hiểu biết và ý thức hành xử phải đi liền nhau. Phải biết sử dụng sức mạnh cây bút, quí trọng sách báo và trân quý kinh nghiệm mọi người.

Vì thế, các cụ tôn thờ hai câu đối: «Bút thụ hữu hoa, huynh đệ lạc » và «Thư điền, vô thuế, tử tôn canh » được treo hai cột lớn nơi gian Thờ tự họ Hoàng. Hai câu đối đó, bên trái nhìn vào là «Bút thụ hữu hoa, huynh đệ lạc ». Nghĩa là phải học, học đến nơi đến chốn, học để cầm bút suy ngẫm và viết những điều hay lẽ phải, chê điều sai trái và giúp ích cho người đời. Cây bút (viết) như cây xanh, cây đại thụ nhiều cành nhánh, nở nhiều hoa, kết trái ngọt mọi người cùng hưởng, anh em vui vẻ. Giá trị và sức sống cấy bút như cây cổ thụ. Bên tay phải nhìn vào là «Thư điền, vô thuế, tử tôn canh » Nghĩa là sách cũng là ruộng, (điền) không phải đóng thuế, con cháu (tử tôn) xem sách, học những kiến thức và trí tuệ đã đúc kết, kinh nghiệm và lời dạy trong sách mà thực hành sẽ giầu có,  tồn tại và phát triển. Sách học là ông thầy thứ hai sau mẹ cha.

III. Nhánh họ Hoàng ở Tứ Thông và ở Làng Lầm

Điểm lại các thế hệ con cháu hậu duệ của họ Hoàng cho ta thấy: Con trai cụ Thượng Tổ Hoàng Công Dũng là Hoàng Văn Bài và Hoàng Văn Thông, khi đã trưởng thành bắt đầu có sự chia tách để phát triển. Đây là bước ngoặt lịch sử, lặp lại việc chia Nhánh họ Hoàng lần thứ hai, giữa anh em ruột cùng họ Hoàng.

 Lần thứ nhất, từ Bắc Sơn (Lạng Sơn) sang Sơn Dương (Tuyên Quang) và lần này, từ Làng Tứ Thông (Hợp Thành) đến Làng Lầm (Tuân Lộ) cùng trong một huyện. Điều trùng hợp của hai lần chia tách cũng đều là cành trưởng ở lại và cành thứ ra đi. Ở đây có vấn đề gì về huyền bí truyền kiếp hay định mệnh không ( ?) Hãy tiếp tục ngẫm nghĩ !

Phải chăng, đó là một tiền lệ, nên mới có quyết định việc chia tách lần thứ hai giữa cụ Hoàng Văn Bài (anh) và cụ Hoàng Văn Thông (em). Hai anh em ruột, cùng cha mẹ sinh ra, nay tách thành hai nơi, mỗi người hùng cứ một vùng. Như vậy, việc chia tách Đời thứ 3 (ở Sơn Dương) giữa Tộc Trưởng Hoàng Văn Bài và Tộc Thứ Hoàng Văn Thông là sự phát triển và mở rộng địa bàn của dòng họ Hoàng trong cùng huyện Sơn Dương.

Từ việc chia tách (Đời thứ 3 ở Sơn Dương) đã mở rộng thêm đất đai canh tác và không gian sống cho con cháu họ Hoàng tồn tại và phát triển hôm nay. Rất may có sự chia tách đó, nên đến nay dòng họ Hoàng chúng ta mới có hai vùng đất sinh sống và phát triển nhiều con, đông cháu trong dòng ho Hoàng thôn Tứ Thông và Làng Lầm.        

Như vậy, Tổ Tiên-Gia Tộc họ Hoàng trước đây đã có tầm nhìn xa thấy rộng, nên sớm có sự chia tách, giữa hai anh em ruột họ Hoàng. Trong tự nhiên và xã hội, chia tách là quy luật của sự phát triển. Chia tách tạo cho các thành viên được độc lập và tự do, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về bản thân với nghị lực: «Hữu chí tất thành» (có chí sẽ làm nên sự nghiệp). Các thế hệ con cháu họ Hoàng sau này, phải có tầm nhìn, dũng khí và nghị lực noi theo Tổ Tiên-Gia Tộc họ Hoàng xưa, chủ động « lập chí và lập nghiệp», di cư đến các vùng đất mới để định cư, lập nghiệp và phát triển.
1. Nhánh tộc trưởng ở lại Làng Tứ Thông, Tử Chầm xã.
Cụ Hoàng Văn Bài (Đời thứ ba ở Sơn Dương) ở lại định cư và lập nghiệp tại Tứ Thông thôn, Tử Chầm xã, Bắc Lũng Tổng nay là thôn Tứ Thông, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và sau này con, cháu phát triển sang các thôn Cây Mơ, Cây Thị, lên thị xã Tuyên Quang, đến Định Hóa (Thái Nguyên), về thành phố Hà Nội và sang Úc châu (Perth, Western Australia).

Theo các cụ trong họ và trong làng kể lại, thời xưa, cụ ông Hoàng Văn Bài là quan của Triều Đình Huế. Cụ là một người rất am hiểu về địa lý, sơn thần, phong thủy, âm dương và ngũ hành; ngoài việc quan trường cụ còn am hiểu về cây cỏ, hoa lá và công dụng của các loài. Vì thế, cụ còn làm thầy thuốc (cả thầy cúng) chữa bệnh cho dân làng, nên được mọi người trong vùng kính trọng và quí mến, gieo mầm phúc đức cho các thế hệ sau.

Cụ Hoàng Văn Bài kết duyên với cụ bà Ma Thị Sách sinh ra Đời thứ tư ở Sơn Dương (4) là ông Hoàng Văn Văn, Hoàng Văn Nhân, Hoàng Văn Tài và  Hoàng Thị Khẩm. Kể từ đây, con, cháu hậu duệ ông Hoàng Văn Văn, Hoàng Văn Nhân, Hoàng Văn Tài và bà Hoàng Thị Khẩm đã cùng nhau xác định cụ Hoàng Văn Bài là Cụ Tổ Cành trưởng ở Tứ Thông, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Mộ chí của cụ Hoàng Văn Bài và cụ bà Ma Thị Sách được các cháu gọi Cụ là ông nội là Hoàng Văn Bàn (con trai ông Hoàng Văn Văn), Hoàng Văn Duyên (con trai ông Hoàng Văn Nhân) và Hoàng Văn Dần (con trai ông Hoàng Văn Tài) chuyển từ các nơi về an táng ở dưới chân núi Rộc Chiều (xưa còn gọi là Đồng Đình) thuộc thôn Tứ Thông, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Trên phần diện tích đó, còn có mộ chí của con trai trưởng của Cụ Hoàng Văn Bài là Hoàng Văn Văn và hai con dâu là bà Lương Thị Thực và Nguyễn Thị Nhiều.

Nhánh họ Hoàng thứ nhất (ở Tứ Thông) cúng giỗ cụ Hoàng Văn Bài và cụ bà Ma Thị Sách là ngày 25 tháng 7 âm lịch hàng năm. Nhưng thường năm đến ngày Giỗ tổ họ Hoàng ngày 25 tháng 10 âm, thì ngày 24 tháng 10 các con cháu họ Hoàng các nơi quy tụ về tổ chức dâng lễ cúng vong linh đối với các cụ Hoàng Văn Bài và Ma Thị Sách.

2. Nhánh tộc thứ di cư đến Thôn Bẫu (Làng Lầm), xã Tuân Lộ.
Cụ Hoàng Văn Thông (Đời thứ 3 ở Sơn Dương), sau khi kết hôn cùng cụ bà Nông Thị Y, đã di rời từ làng Tứ Thông về định cư ở quê vợ, một làng nằm dọc sông Phó Đáy là Thôn Bẫu (Làng Lầm), xã Tuân Lộ cùng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Cụ Hoàng Văn Thông và cụ bà Nông Thị Y sinh ra Đời thứ 4 ở Sơn Dương là  Hoàng Thị Ước, ông Hoàng Văn Thạch, ông Hoàng Văn Kim,  Hoàng Thị Hạc, ông Hoàng Văn Chích. Kể từ đây, con, cháu hậu duệ bà Hoàng Thị Ước, ông Hoàng Văn Thạch, ông Hoàng Văn Kim, bà Hoàng Thị Hạc và ông Hoàng Văn Chích cùng nhau xác định cụ Hoàng Văn Thông là Cụ Tổ Cành thứ ở xã Tuân Lộ, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Nhánh họ Hoàng thứ hai cúng giỗ cụ Hoàng Văn Thông, là ngày 30 tháng 11 âm lịch hàng năm.
3. Cụ bà Hoàng Thị Ghẻ (Đời thứ 3) con gái của cụ Hoàng Công Dũng và Nông Thị Nở.
Về cụ bà Hoàng Thị Ghẻ (Đời thứ 3) sinh năm 1890, mất năm 1956, là em gái của hai cụ Hoàng Văn Bài và Hoàng Văn Thông. Cụ bà Hoàng Thị Ghẻ kết duyên cùng cụ ông Ma Văn Thưởng ở Làng Sảo (cùng xã Hợp Thành). Hai cụ sinh ra các ông Ma Văn Hạ, ông Ma Văn Lục, ông Ma Văn Điều,  Ma Thị Độ, ông Ma Văn Oi ở thôn Cây Mơ, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương hiện nay.

Duy nhất, Đời thứ ba họ Hoàng là cụ bà Hoàng Thị Ghẻ còn hình ảnh lưu lại và thờ phụng ở nhà con cháu cụ Ma Văn Thưởng ở thôn Cây Mơ, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.