Họ Hoàng trên núi Bà (Đen) – Tuyên Quang

PHẦN THỨ BA
TỘC TRƯỞNG HOÀNG VĂN BÀI  Ở TỨ THÔNG VÀ CÂY THỊ.

Từ đây, con cháu họ Hoàng thuộc Tộc Trưởng ở Tứ Thông và Cây Thị thống nhất xác định Cụ Hoàng Văn Bài (Đời thứ 3 ở Sơn Dương) là Cụ Tổ-Gốc phả tộc ở Tứ Thông và Cây Thị (xã Hợp Thành) để phân các Cành, chia các Chi trong mối quan hệ anh em trong họ Hoàng ở Tứ Thông.
 Như trên đã viết, cụ Hoàng Văn Bài kết duyện với cụ bà Ma Thị Sách, sinh ra Đời thứ tư (4) ở Sơn Dương là ông Hoàng Văn Văn, ông Hoàng Văn Nhân, ông Hoàng Văn Tài và  bà Hoàng Thị Khẩm.
Về cụ bà Ma Thị Sách, chưa xác định được năm sinh, ngày tháng mất. Chỉ biết rằng, cụ Ma Thị Sách là chị em với cụ ông Ma Văn Bất, Ma Văn Sự và cụ Ma Văn Hán.

Cần nói thêm, cụ ông Ma Văn Bất (anh) đã sinh ra cành ông Ma Văn Bình (có con là Sinh, Lùng, Hạnh, Tý, Mão) và ông Ma Văn Yên (có các con là Cư, Tuy, Nhi).
Cụ Ma Văn Hán (em) sinh ra bà Ma Thị Nguyên chồng là ông Ma Văn Cấn (có con là Doãn, Giáp, Bính, Canh, Điền, Sở, Trung…).
Ghi lại chi tiết trên, để các thế hệ con cháu họ Hoàng biết về mối quan hệ giữa họ Hoàng với họ Ma mà ứng xử với con, cháu, chắt dòng họ Ma cho phải đạo lý và truyền thống gia phong.
Đi sâu tìm hiểu trong từng cành, từng chi thuộc Tộc Trưởng  họ Hoàng ở Làng Tứ Thông và Cây Thị, nhận thấy sự phát triển về con cháu, dòng họ  như sau:

Thứ nhất
CÀNH CỤ HOÀNG VĂN VĂN  (Đời thứ Tư ở Sơn Dương)

Cụ Hoàng Văn Văn, còn gọi là Hoàng Công Văn là Đời thứ Tư (4) ở Sơn Dương. Nghe kể lại, Cụ Hoàng Văn Văn là người hiểu biết thông thạo chữ Nho, có thời kỳ làm chánh lý và biết cúng lễ, chữa bệnh cho dân làng. Cụ là một trong những gia đình đầu tiên đến sinh cơ, lập nghiệp và sống lâu đời ở làng Tứ Thông cho đến ngày nay.

Gia đình Cụ Hoàng Văn Văn sống trong một khuân viên diện tích rộng rãi ở giữa làng; phía trước có vườn, có ao, hàng cau, giàn cây trầu và phía sau có nhiều cây cổ thụ như mít, trôi (muỗm), ổi, đào, mận.

 Nhà ở, kiến trúc theo mẫu nhà sàn nguyên thủy, năm gian, hai trái; vật liệu xây dựng bằng gỗ, cột to nguyên khối gỗ đường kính 35-40 cm được kê trên đá; sàn lát ván, xung quanh có bao lơn con triện, vách xung quanh bao bằng ván, rui mè bằng gỗ và tre mai; mái nhà lợp lá cọ, độ dày 30-45 cm. Khuôn viên nhà được bao xây tường rào bằng tre, gỗ; cổng vào có bậc cao 30-45 cm, mọi người phải bước qua; hai cánh cổng bằng gỗ, trong có then cài; trên cổng có mái che, làm bằng gỗ, hai tầng, lợp bằng lá cọ.
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ngày 02 tháng 4 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh tản cư từ thủ đô Hà Nội chuyển lên Làng Sảo thuộc xã Bình Phú (nay là Hợp Thành). Ông Chu Nhữ (Chu Quí Lương) là Bí thư huyện ủy Sơn Dương (thời đó) giao nhiệm vụ cho Lãnh đạo xã Hợp Thành là ông Ma Văn Thư (Chủ tịch Hành chính xã), Ma Văn Hạ (Phó Chủ tịch Hành chính xã), Lương Văn Cảnh (Thủ quĩ xã), ông Ma Văn Hiến….đi đón Bác từ phố Đăng Châu, đi qua Cầu Đá và cánh đồng Rẽo về nhà ông Ma Văn Hiến ở trong thung lũng và rừng Củ Đạo.

Thu đông năm 1947 (tháng 10 đến tháng 12) giặc Pháp tấn công lên Tuyên Quang và Việt Bắc, gia đình cụ Hoàng Văn Bài, Hoàng Công Văn chạy lên núi, toàn bộ nhà bị đốt, tài sản bị cháy hết.

Cụ Hoang Văn Văn có hai vợ.
 Vợ cả là cụ bà Lương Thị Thực, (chưa biết năm sinh) là chị gái cụ Lương Văn Cờ ở Làng Chầm. Cụ Thực mất tháng 10 năm 1982 (Nhâm Tuất). Cụ Lương Thị Thực sinh ra Đời thứ Năm (5) ở Sơn Dương được hai người con là bà Hoàng Thị Phạn và ông Hoàng Văn Bàn.
Vợ thứ hai là cụ bà Nguyễn Thị Nhiều, người miền xuôi (Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc), con cháu không rõ quê quán, chưa biêt năm sinh. Tuy nhiên, cụ Nguyễn Thị Nhiều có quan hệ thân quen hoặc quan hệ họ hàng với gia đình nhà cụ Đối, bà Mận, ông Thức ở phố Đăng Châu. Đây là manh mối để tìm quê quán chính của cụ. Cụ Nguyễn Thị Nhiều không có con. Cụ  mất tháng 4/1982 (Nhâm Tuất).

Các chi và đời thuộc cành cụ Hoàng Văn Văn gồm có:

1- Chi bà HOÀNG THỊ PHẠN (Đời thứ 5 ở Sơn Dương),
 Như trên đã viết, bà Hoàng Thị Phạn (Đời thứ 5là con gái của cụ ông Hoàng Văn Văn và cụ bà Lương Thị Thực. Bà Hoàng Thị Phạn kết duyện với ông Ma Kim Ngọc (con trai thứ 3 của cụ Ma Văn Cương), em trai ông Ma Văn Hiến, người cùng làng, khác thôn. Nhưng có họ hàng gần với cụ Ma Thị Sách. Khi ông Ngọc yêu bà Phạn, cả hai họ can ngăn, nhưng ông Ngọc dứt khoát chỉ lấy cô Phạn. Thế là nên duyên vợ chồng.

Trong một lần, ông Ngọc đi ở làng về (trước tháng 8 năm 1945), bà Hoàng Thị Phạn đang ngồi sàng gạo và bụng đang mang thai, ông Ngọc trêu đùa bà Phạn, không may va chạm mạnh vào bụng, làm bà Phạn ngất và chết đột tử, cả mẹ và con. Ngày giỗ của bà Hoàng Thị Phạn là 25 tháng Chạp (12) âm lịch hàng năm và đó cũng là ngày giỗ của người con gái chưa sinh của bà. Báo mộng cho biết tên người con gái này là Nhi.

Do bà Hoàng Thị Phạn đã đi lấy chồng (xuất giá) và mang thai chưa sinh con, nên khi bà mất, thờ cúng không đến nơi, đến chốn. Vì thế, bà thường xuyên báo mộng và hiển linh trong các con vật (gà ruộng, bướm) đối với con cháu họ Hoàng và theo phù hộ cho những ai thờ cúng bà. Đặc biệt là các cháu cành cụ Hoàng Văn Nhân. Vì thế, con cháu họ Hoàng cần phải thờ cúng bà và con gái của bà Hoàng Thị Phạn.

2- Chi ông HOÀNG VĂN BÀN (Đời thứ 5 ở Sơn Dương)
Ông Hoàng Văn Bàn sinh năm 1926 là con trai độc nhất của cụ Hoàng Văn Văn và cụ bà Lương Thị Thực. Gia đình hiện nay ở thôn Tứ Thông (xã Hợp Thành) dưới chân núi Bà Đen, nơi có 5 ngôi mộ Tổ Gia Tộc họ Hoàng. Ông Hoàng Văn Bàn mất ngày 13 (Canh Tuất) tháng 9 (Giáp Tuất) năm Giáp Ngọ. Tức ngày 06 tháng 10 năm 2014.

Ông Hoàng Văn Bàn là Trưởng tộc họ Hoàng (Đời thứ 5 ở Sơn Dương) Tứ Thông và Tuân Lộ. Sinh thời, ông Hoàng Văn Bàn có nhiều suy nghĩ và lo lắng cho dòng họ, chăm lo mồ mả ông cha; ông thường xuyên nhắc nhở con cháu các cành, các chi thờ phụng Tổ tiên Gia tộc và chăm sóc mồ mả Tổ tiên các đời cho chu đáo, vẹn toàn.
 Ông Hoàng Văn Bàn là người khởi xướng và có công rất lớn và trực tiếp dẫn đoàn đi tìm lại cội nguồn dòng họ Hoàng ở Tứ Thông và Làng Lầm tháng Hai năm Ất Mão. Khi đó, tuy ông đã luống tuổi, nhưng vẫn hăng say, nhiệt tình cùng với các em và cháu tìm về nguồn cội họ Hoàng ở xã Long Đống (Bắc Sơn, Lạng Sơn). Tại đây, ông đã trao đổi với ông Hoàng Công Thử và “Thống nhất sao lập lại gia phả dòng họ Hoàng Công ở Lạng Sơn và Tuyên Quang ». Đầu những năm 2000Ông là người chủ trì và chỉ đạo việc quy tập năm ngôi Mộ Tổ họ Hoàng về chân núi Bà Đen thôn Tứ Thông ngày nạy.
Ông Hoàng Văn Bàn kết duyên với bà Mông Thị Thuỷ (sinh năm 1928), là chị gái ông Mông Chí Tăng ở Làng Sảo. Bà Mông Thị Thủy mất ngày 22 tháng 3 năm Át Dậu (2005).

Ông Hoàng Văn Bàn và bà Mông Thị Thủy sinh được 7 người con (Đời thứ 6 ở Sơn Dương). Ông bà sống cùng vợ chồng người con thứ tư trong bảy người con là Hoàng Văn Bằng (con trai thứ hai) ở thôn Tứ Thông, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang cho đến khi về với Tổ tiên ngày 13 tháng 9 năm Giáp Ngọ.

Bảy người con của ông Hoàng Văn Bàn và bà Mông Thị Thủy là:

(1). Hoàng Thị Chung (Đời thứ 6) sinh 1949. Học chuyên nghiệp, ra trường về làm kế toán ở Cơ Khí huyện Sơn Dương, đến khi nghỉ hưu. Chị Chung kết duyên cùng anh Đỗ Khắc Chính, sinh năm 1947 là bộ đội chuyển ngành. Cả hai anh chị đều làm trong cơ quan nhà nước ở huyện Sơn Dương, gia đình ở Thị trấn Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Chị Hoàng Thị Chung và anh Đỗ Khắc Chính sinh ra Đời thứ 7 (ngoại) ở Sơn Dương:
a) Con gái là Đỗ Thị Tâm, (sinh năm 1973); chồng là Hà Hữu Dũng (1968) làm nghề xây dựng. Gia đình hiện nay ở thôn Xây Dựng, Thị trấn Sơn Dương. Đỗ Thị Tâm và Hà Hữu Dũng sinh ra (Đời thứ 8 ở Sơn Dương) là Hà Hữu Duy năm 1994 (Giáp Tuất) làm ở Công ty Gạch men Hải Dương và Hà Hữu Duẩn năm 2004 (Giáp Thân) đang học phổ thông.
b) Con trai là Đỗ Khắc Tuyển, (sinh năm 1976), làm nghề xây dựng vợ là Nguyễn Thị Hòa (1976) là giáo viên Trường Cấp II, xã Kháng Nhật. Đỗ Khắc Tuyển và Nguyễn Thị Hòa sinh ra (Đời thứ 8 ở Sơn Dương) là Đỗ Thị Thảo năm 2001 (Tân Tỵ) và Đỗ Thị Uyên năm 2006 (Bính Tuất).
c) Con trai là Đỗ Khắc Thế (sinh năm 1981), làm việc tại Công ty Khoáng sản Địa chất Hà Nội; vợ là Nguyễn Thị Hương (1990), quê ở tỉnh Vĩnh Phúc, làm việc ở Công ty Môi trường Sơn Dương. Đỗ Khắc Thế và Nguyễn Thị Hương sinh ra (Đời thứ 8 ở Sơn Dương) là Đỗ Văn Anh năm 2012 (Nhâm Thìn)

(2) Hoàng Văn Cao (Đời thứ 6 ở Sơn Dương) sinh 1956, vợ là Ma Thị Hoa sinh năm 1959, người cùng làng.
Anh Hoàng Văn Cao, trước đây đi bộ đội chống Mỹ, tham gia giải phóng Sài Gòn (30-4-1975); có thời gian đóng quân tại đảo Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang). Chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1977-1978, có tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới và giúp quân đội nước bạn Campuchia giải phóng Nông-pênh. Kết thúc chiến tranh, năm 1981 giải ngũ về làm ruộng tại quê nhà.

Anh Hoàng Văn Cao và chị Ma Thị Hoa sinh ra Đời thứ 7 (nội) gồm có bốn người con trai là:
a) Hoàng Văn Cương, (sinh ngày 10/2 năm 1982), làm việc tại Công ty Khoáng sản Địa chất 109 Sơn Dương; vợ là Ma Thị Hiền (1984) quê huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn, làm việc ở Công ty May.

Hoàng Văn Cương và Ma Thị Hiền sinh ra (Đời thứ 8) là Hoàng Thị Loan năm 2008 (Mậu Tý) và Hoàng Tuấn Khanh năm 2011 (Tân Mão)
b) Hoàng Văn Sáng, (sinh ngày 12/10 năm 1983), làm việc tại Công ty Cổ phần Giấy An Hòa, Tuyên Quang; vợ là Trần Thị Mỵ (sinh ngày 16/06/1987), làm Kế toán Công ty May. Hoàng Văn Sáng và Trần Thị Mỵ sinh ra Đời thứ 8 là Hoàng Ngọc Diệp sinh ngày 14/10/2012.
c) Hoàng Văn Nghĩa, (sinh ngày 24/4 năm 1985), vợ là Hoàng Thị Thu (1989) ở xã Vĩnh Lợi. Hoàng Văn Nghĩa và Hoàng Thị Thu làm việc tại Công ty Xí nghiệp Vĩnh Lợi Sơn Dương, sinh ra Đời thứ 8 là Hoàng Gia Huy năm 2009 (Kỷ Sửu)
d) Hoàng Văn Vụ, sinh năm 1987, làm việc tại Công ty Địa chất 109 Sơn Dương (Tuyên Quang); vợ là Trần Thị Sáu (1987) ở thôn Chầm, xã Hợp Thành. Hoàng Văn Vụ và Trần Thị Sáu sinh ra Đời thứ 8 là Hoàng Đăng Khoa sinh ngày 27/01/2014.

(3) Hoàng Thị Xu (Đời thứ 6) sinh năm 1961, chồng là Trịnh Xuân Chiến, sinh năm 1952.
Chị Hoàng Thị Xu là công chức nhà nước, công tác ở Ngành Lao động  Thương binh Xã hội tỉnh Tuyên Quang; chồng là Trịnh Xuân Chiến quê Thanh Hóa, là bộ đội chống Mỹ, thương binh, gia đình định cư tại Tổ 7, phường Nông Tiến, Thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

Chị Hoàng Thị Xu và anh Trịnh Xuân Chiến sinh ra Đời thứ 7 (Ngoại) là:
a) Trịnh Thị Thắng, sinh năm 1981
b) Trịnh Xuân Hùng, sinh năm 1983, làm việc tại Sở Lao động Thương binh Xã hội tỉnh Vĩnh Phúc; vợ là Phùng Thị Liên sinh 1983 làm việc tại Sở Giao thông Vận tải tỉnh Vĩnh Phúc.
Trịnh Xuân Hùng và Phùng Thị Liên sinh ra đời thứ 8 (sinh đôi năm 2014) là Trinh Gia Vũ (con trai) và Trịnh Gia Hân (con gái).

(4) Hoàng Văn Bằng (Đời thứ 6) sinh năm 1965, vợ là chị Ma Thị Nhâm, sinh năm 1966.
Anh Hoàng Văn Bằng, sau khi đi nghĩa vụ quân sự (chống Trung Quốc xâm lược) về quê làm ruộng. Vợ là Ma Thị Nhâm sinh năm 1969 (người làng Chầm).  Hiện nay gia đình sinh sống ở thôn Tứ Thông, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

 Anh Hoàng Văn Bằng và chị Ma Thị Nhâm sinh ra Đời thứ 7 (Nội):
a) Hoàng Thị Nhung, sinh năm 1993, tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên; chồng là Vũ Mạnh Tùng, quê huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, tốt nghiệp Trường Trung cấp Cảnh sát Văn Lâm (Văn Giang, Hưng Yên).

Hoàng Thị Nhung và  Vũ Mạnh Tùng sinh ra đời thứ 8 (ngoại) là Vũ Quỳnh Trang (17-9-2015)
b) Hoàng Quang Linh, sinh năm 1998, đang đi học. 

(5) Hoàng Thị Ca (Đời thứ 6) sinh năm 1968, chồng là Nguyễn Văn Cường, sinh năm 1964.
Chị Hoàng Thị Ca và anh Nguyễn Văn Cường làm việc tại Nông trường Chè Tân Trào Sơn Dương. Gia đình chị Hoàng Thị Ca hiện nay ở thôn Tân Yên, xã Bình Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Chị Hoàng Thị Ca và anh Nguyễn Văn Cường sinh ra Đời thứ 7 :
a) Con trai là Nguyễn Văn Kiên, sinh năm 1988; vợ là Lương Thị Trang (1992). Nguyễn Văn Kiên và Lương Thị Trang sinh ra (Đời thứ 8) là Nguyễn Thị Khánh Phương năm 2011.
b) Con trai là Nguyễn Văn Sang, (năm 1990); vợ là Nguyễn Thị Nhàn (1990) sinh ra đời thứ 8 là Nguyễn Duy Khánh (2014).

(6) Hoàng Văn Giang (Đời thứ 6) sinh năm 1971, vợ là chị Phạm Thị Tám, sinh năm 1973, quê ở Đông Giang, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Gia đình anh Hoàng Văn Giang và chị Phạm Thị Tám rời làng Tứ Thông ra sinh cơ lập nghiệp dọc tỉnh Lộ 37 đường Tuyên Quang-Thái Nguyên, thuộc thôn Măng Ngọt, thị trấn Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Anh Hoàng Văn Giang và chị Phạm Thị Tám sinh ra Đời thứ 7 (nội):
a) Con gái là Hoàng Thị Thơm, sinh năm 1992. Sau khi tốt nghiệp Lớp 12 đã thi đậu vào Đại học Kinh tế Thái Nguyên. Cho đến thời điểm năm 2011, Hoàng Thị Thơm là cháu nội duy nhất của cành và chi ông Hoàng Văn Bàn thi đậu vào Trường Đại học. Đây là niềm tự hào cho cả dòng họ Hoàng thôn Tứ Thông. Hoàng Thị Thơm làm kế toán, lấy chồng là Âu Thế Luân, sinh 1990, quê ở thôn Đá Trơn, xã Đông Thọ (Sơn Dương, Tuyên Quang) tốt nghiệp Đại học Khoa học Thái Nguyên.
Hoàng Thị Thơm và Âu Thế Luân sinh ra Âu Khánh Mỹ (6/2016).
b) Con trai là Hoàng Văn Nam, sinh năm 1994, làm việc tại Hà Nội.

 (7) Chị Hoàng Thị Ngân (Đời thứ 6) sinh 1974, chồng là Trần Văn Thắng,  sinh năm 1970.
Gia đình chị Hoàng Thị Ngân và anh Trần Văn Thắng hiện nay ở thôn Đa Năng, xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. Chị Hoàng Thị Ngân và anh Trần Văn Thắng sinh ra Đời thứ 7 :
a) Con trai là Trần Văn Mạnh sinh năm 1992, con dâu là Nguyễn Thị Vân Anh (1990) sinh ra đời thứ 8 là Trần Thị Thúy
b) Con gái là Trần Thị Nhàn sinh năm 1996 ; chồng là Phạm Quang Long (sinh 1988); làm việc tại Công ty Xăng dầu Tuyên Quang.

Thứ hai
CÀNH CỤ  HOÀNG VĂN NHÂN (Đời thứ 4, Sơn Dương)

 Về năm sinh của cụ Hoàng Văn Nhân, theo ông Hoàng Văn Hợp (con trai thứ của cụ) có ghi lại vào năm 1970 là 79 tuổi. Như vậy, năm sinh có thể là 1891 (Tân Mão) hoặc 1890 (Canh Dần). Cụ Hoàng Văn Nhân mất ngày Mùng 6 tháng Chạp năm Quí Sửu (1973).
Theo ông Hoàng Văn Hợp ghi lại: «Trước Cách mạng Tháng 8/1945  Cụ ông Hoàng Văn Nhân đi lính nhà giấy cho Pháp ở Trạm Tuyên Quang (1925-1927) và đã lên chức quan, nhưng chưa biết cấp bậc. Sau khi mãn hạn lính, năm 1939-1942 làm hộ lại (Thủ bạ: khai sinh, khai tử, giá thú), không gây thiệt hại gì đối với dân làng.
« Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, từ năm 1947 tham gia Hội đồng Bảo trợ Du kích cho đến 1953 phát động giảm tô mới thôi. Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, về kinh tế: ruộng có 1,2 mẫu; trâu có 4 con. Một nhà gỗ 3 gian 2 chái. Năm  1947 nhà bị Pháp đốt. Kinh tế đủ ăn. Thành phần Trung Nông. Chấp hành chính sách tốt ».
Cụ Hoàng Văn Nhân có hai đời vợ. Đời thứ nhất là cụ bà Lương Thị Hội ở  Làng Chầm, quê gốc Nam Định. Cụ Lương Thị Hội mất 1925 (Ất Sửu). Bố đẻ cụ bà Lương Thị Hội là Cụ Bá Hội. Cụ bà Lương Thị Hội là chị của cụ Lương Thị Tòng (bà Lùn) lấy chồng ở Văn Lãng, Đại Từ, Thái Nguyên và là chị của cụ Lương Văn Bảng, bố của ông Lương Văn Học, hiện đang ở thôn Túc Khê, xã Hợp Thành, Sơn Dương, Tuyên Quang.

Cụ Lương Thị Hội và cụ Lương Văn Bảng là anh chị em cành trên của cụ Lương Minh Thảo (con là Đoàn, Tụ, Châu….) ở Làng Chầm, Hợp Thành. Bố cụ Lương Minh Thảo có thời kỳ làm lý trưởng Làng Chầm.
Cụ ông Hoàng Văn Nhân và cụ bà Lương Thị Hội sinh ra Đời thứ năm (5) là ông Hoàng Văn Duyên (1920). Theo kể lại, khi ông Duyên được 5 tuổi thì cụ Lương Thị Hội bị bệnh và mất. Bà Hoàng Thị Tính (em gái ông Duyên) nói, cụ Hội mất (chết) lúc 27 tuổi. Có thông tin lại nói cụ mất khi 18 tuổi (?). Cũng theo kể lại, sau khi mẹ mất, ông Hoàng Văn Duyên được cụ Hoàng Văn Văn (con trai cụ Hoàng Văn Bài) đón về nuôi. Vì khi đó, cụ ông Hoàng Văn Nhân đang đi lính Trạm ở Tuyên Quang và vợ chồng cụ ông Hoàng Văn Văn khi đó chưa có con.
Đời vợ thứ hai. Sau khi cụ bà Lương Thị Hội mất, cụ ông Hoàng Văn Nhân vẫn tiếp tục làm lính Trạm tại Tuyên Quang. Trong quá trình sống ở Tuyên Quang, được bạn bè giới thiệu, đã làm quen và kết duyên cùng cụ bà Đặng Thị Cúc.
Về cụ bà Đặng Thị Cúc, không ai biết ngày tháng năm sinh, nhưng có thông tin nói là quê cụ ở Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Về năm mất, nhớ mang máng khoảng năm 1946-1947 tại Nước Nóng; khi đó cưới chạy tang cho ông Hoàng Văn Hợp kết hôn với bà Tình Thị Hưởng gia đình ở bên Cầu Quất, xã Tú Thịnh.
Cụ bà Đặng Thị Cúc còn có hai người em là Đặng Thị Xuân và Đặng Văn Mít, nghe nói đi làm ăn sinh sống trên mạn Tu Vũ, tỉnh Hoà Bình. Từ khi cụ bà Đặng Thị Cúc mất, cộng với những năm kháng chiến chống Pháp, con cháu cụ Cúc mất liên lạc với hai người em của cụ là Đặng Thị Xuân và Đặng Văn Mít.
Cụ ông Hoàng Văn Nhân sống cùng người con trai và con dâu thứ ba là Hoàng Văn Hợp cho tới khi cụ mất.
Hiện nay, hài cốt và mộ cụ ông Hoàng Văn Nhân, hai cụ bà Lương Thị Hội và Đặng Thị Cúc được táng ở khu ruộng Găng, cánh đồng Vực Dài, bên bờ con suối chảy từ núi Tam Đảo qua Làng Chầm ra sông Phó Đáy. Ngày cúng giỗ cụ Hoàng Văn Nhân là Mùng 6 tháng Chạp âm lịch hàng năm.
Hai cụ Hoàng Văn Nhân và Đặng Thị Cúc, sinh ra Đời thứ năm (5) được hai con trai và hai con gái là Hoàng Thị Tính, Hoàng Văn hợp, Hoàng Thị Hoan và Hoàng Thái Long. Ông Hoàng Văn Duyên (con cụ Hội) là anh trai cả trong năm người con của Cụ Hoàng Văn Nhân.

Các chi của cành cụ Hoàng Văn Nhân.

1. Chi ông HOÀNG VĂN DUYÊN (Đời thứ 5 ở Sơn Dương)
Về cuộc đời ông Hoàng Văn Duyên (1920-2009) đã được ghi trong Chuyện Ông Xì, nay không kể lại. Ông Hoàng Văn Duyên kết hôn cùng bà Dương Thị Thuận. Về năm sinh của bà Dương Thị Thuận, nghe nói là hơn ông Duyên hai tuổi. Như vậy, nếu ông Duyên tuổi Canh Thân (1920) thì bà Thuận phải là tuổi Mậu Ngọ (1918) hoặc tuổi Kỷ Mùi (1919).

Về bà Dương Thị Thuận. Bà Thuận là người Làng Chầm, con gái của ông Dương Văn Út (giỗ mùng 4 tháng 8 âm lịch) xã trưởng và bà Nguyễn Thị Chi (sinh 1896) người Văn Lãng, huyện Đại Từ (mất ngày mùng 7 tháng 1 năm 1982) khi đó cụ 86 tuổi). Bà Dương Thị Thuận là chị gái ruột của ông Dương Văn Thoai (Hiền) giỗ 28 tháng 4 âm và ông Dương Văn Miễn (1924-2012).
Bà Dương Thị Thuận mất ngày 13 tháng Hai năm Tân Hợi (1971) lúc đó bà mới có 53 tuổi. Mộ bà táng ở chân núi Đất Đỏ-Khuân Cuối, thôn Cây Thị. Ngày giỗ là 13 tháng 2 âm lịch hàng năm.
Sau khi bà Dương Thị Thuận mất, ông Hoàng Văn Duyên ở vậy; sống với con trai thứ hai là Hoàng Văn Hào và con dâu, cùng các cháu nội ngoại từ tháng 2 năm Tân Hợi (1971) đến 30 tháng 9 năm Kỷ Sửu (2009).
Ông Hoàng Văn Duyên mất lúc 11 giờ 55 phút ngày 16/10/2009, tức trưa ngày 30 tháng 9 năm Kỷ Sửu. Theo chứng minh nhân dân do Công an tỉnh Hà Tuyên cấp thì ông Duyên sinh năm 1916 (thọ 94 tuổi); còn theo ông Hoàng Văn Duyên tự nói sinh năm 1920, tính theo âm lịch thọ 90 tuổi.
Thi hài ông Hoàng Văn Duyên được an táng tại ruộng Cây Lai, cánh đồng Vực Dài, thuộc thôn Cây Thị, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Ngày giỗ là 30 tháng Chín âm lịch hàng năm.
Ông Hoàng Văn Duyên và bà Dương Thị Thuận sinh ra Đời thứ 6 (Nội) được 8 người con (ba trai, 5 gái):

(1). Hoàng Nguyên Hồng (Hoàng Hồng, HoàngGia) Đời thứ 6.
Hoàng Nguyên Hồng khi còn nhỏ gọi là Xì, sinh ngày 5 tháng 2 năm Quí Mùi (1943). Sau này khai 03/02/1943. Khi 15 tuổi đã đi làm công chức nhà nước. Vào Đảng Lao động Việt Nam ngà 01/11/1963. Tốt nghiệp cử nhân Luật, kỹ sư Lâm học, hành nghề Luật sư.

Khởi nghiệp từ ngành lâm nghiệp, Giáo viên, cán bộ giáo vụ Trường Trung cấp Lâm nghiệp Việt Bắc; Chánh văn phòng Khu Đoàn Thanh niên Việt Bắc; Cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đoàn, Phó Trưởng Ban Mặt trận Thanh niên Trung ương Đoàn; Ủy viên Thư ký Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam; đại biểu tham dự Festival Thanh niên thế giới lần thứ 11 ở Cu Ba 1978; Chuyên viên cao cấp (bậc cao) Phụ trách Phòng Tổng hợp Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng; Phó Trưởng Phòng Pháp chế Bộ NN&PTNT; Ủy viên Ban kiểm soát Tổng công ty Lâm Nghiệp Việt Nam;  Ủy viên BCH Trung ương Hội Khoa học Phát triển Nhân lực Nhân tại Việt Nam. Luật sư Trưởng Chi nhánh Luật sư An Thái Sơn Dương (Tuyên Quang).
Huân chương Kháng chiến Chống Mỹ, cứu nước hạng II, Huân chương Lao động hạng III. Kỷ niệm Chương công tác Tư tưởng và Công tác Kiểm tra của Đảng. Kỷ niệm chương  Vì Thế hệ trẻ Việt Nam.
Vợ là Lê Thị Kim Thoa, sinh năm 1947. Tốt nghiệp sau Đại học sư phạm, Chuyên Khoa cấp II, giáo viên cao đẳng sư phạm Việt Bắc, biên tập viên Nhà xuất bản Thanh niên, Phó Giám đốc Nhà in Trẻ thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
 Hiện nay gia đình ở Căn hộ 304, Nhà F, Chung cư Ngõ 28 Xuân La, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
Hoàng Nguyên Hồng và Lê Thị Kim Thoa sinh ra (Đời thứ 7-Nội):
a) Con trai là Hoàng Lê Tuấn (Đời thứ 7) sinh ngày 14 tháng 12 năm Giáp Dần, tức ngày 25 tháng 01 năm 1975, kiến trúc sư, giải thưởng Vifotec. Con dâu là Phạm Hằng Thoa (1980) tốt nghiệp Quan hệ Quốc tế. Hiện nay gia đình định cư tại Tây Úc (Perth, Western Australia).

Hoàng Lê Tuấn và Phạm Hằng Thoa sinh hai con trai Đời thứ 8:
*Hoàng Gia Minh – Andrew Nguyễn, sinh năm Giáp Thân (2004) tai Sydney Australia.

* Hoàng Gia Quang – Brian Hoàng, sinh năm Đinh Hợi (2007) tại Perth Western Australia
b) Con gái Hoàng Lan Hương (Đời thứ 7) sinh ngày 11/11/1982 (Nhâm Tuất), tốt nghiệp Thủ khoa Sư phạm được lưu danh Bảng vàng danh dự tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, giải thưởng Sao Tháng Giêng; là giảng viên Trường Cao Đẳng Sư phạm Trung ương; Hiệu trưởng Trường Mầm non Tư thục Việt Nhật (Wakodo). Chồng là Nguyễn Trung Hiếu (sinh 1982), kỹ sư xây dựng, công chức thành phố Hà Nội. Hiện nay gia đình định ở Thủ đô Hà Nội. Hoàng Lan Hương và Nguyễn Trung Hiếu sinh được hai con trai Đời thứ 8:
* Nguyễn Hoàng Thái Triệu-Ben, sinh năm Đinh Hợi (2007).

* Nguyễn Hoàng Vĩnh Khang-Gim, sinh Canh Dần (2010).

 (2) Hoàng Thị Hà (Đời thứ 6)
Hoàng Thị Hà khi còn nhỏ gọi là Kẹ, sinh ngày 22 tháng 12 năm Ất Dậu (1945). Tốt nghiệp Trung cấp y khoa, làm công tác y tế xã Hợp Thành. Hiện nay sống cùng người con trai thứ là Nguyễn Hoàng Cương ở thôn Cây Thị, xã Hợp Thành.

Hoàng Thị Hà có ba người con (hai trai, một gái):
a) Con trai là Nguyễn Văn Giang (Đời thứ 7) sinh năm 1971tốt nghiệp Cấp III, ở nhà kinh doanh, hiện là chủ doanh nghiệp. Con dâu là Nguyễn Thị Hưng (sinh 1970) kinh doanh. Hiện nay gia đình ở thôn Trại Cá, Hợp Thành, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang.
Nguyễn Văn Giang và Nguyễn Thị Hưng sinh được hai người con Đời thứ 8:
* Nguyễn Hoàng Tú, sinh năm Canh Ngọ (1990) vợ là……
* Nguyễn Hoàng Lan, sinh năm Canh Dần-2010.
b) Con gái là Nguyễn Thị Hằng (Đời thứ 7) sinh năm 1977Trung cấp Kế toán và Đại học Lâm nghiệp, công chức Kiểm lâm ở Vườn Quốc gia Tam Đảo tại Thị trấn Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguyễn Thị Hằng có một con nuôi tên là Nguyễn Thùy Linh, sinh năm 1996, học Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương. Cháu Linh có mẹ nuôi là Trần Thị Mai (sinh 1975) làm ở Trung tâm Cứu hộ Gấu (Dự án quốc tế) trong Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
c) Con trai là Nguyễn Hoàng Cương (Đời thứ 7) sinh năm 1984. Học nghề thuốc, Trung cấp Y học Cổ truyền Hà Nội. Kinh doanh vận tải. Con dâu là Nguyễn Thị Diễm Trinh, sinh năm 1988.
Nguyễn Hoàng Cương và Nguyễn Thị Diễm Trinh sinh ra đời Thứ 8:
* Nguyễn Hoàng Phương Hoa (con gái) sinh năm 2013.
* Nguyễn Hoàng Nam (con trai) sinh năm 2016.
Hiện nay ở thôn Cây Thị, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

 (3) Hoàng Văn Hào (Đời thứ 6)
Hoàng Văn Hào khi còn nhỏ gọi là Đỏ, sinh ngày 10 tháng 10 năm Canh Dần (1950). Tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam, Binh chủng Hóa học, chiến sỹ Danh dự duyệt binh năm 1975 tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội. Tốt nghiệp Đại học Tài chính, Phó trưởng Chi Cục Thuế huyện Sơn Dương; trước khi tham gia quân đội làm Phó Chủ nhiệm HTX, Kế toán trưởng. Vợ là Nguyễn Thị Lựu giáo viên, Phó Hiệu trưởng Trường PTCS Hợp Thành. Gia đình ở thôn Trại Cá, thôn Cây Thị, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang.

Hoàng Văn Hào và Nguyễn Thị Lựu sinh được bốn người con (2 gái và 2 trai):
a) Con gái là Hoàng Thúy Liễu (Đời thứ 7) sinh năm 1971, Đại học Tài chính, công chức xã; con rể là Hoàng Minh Cường (1963), chủ doanh nghiệp tư nhân. Gia đình ở xã Bình Yên, cùng huyện. Hoàng Thúy Liễu và Hoàng Minh Cường sinh ra Đời thứ 8:
* Hoàng Mạnh Đức, sinh năm Tân Mùi (1991), công chức xã, cán bộ thanh niên. Vợ là Nông Thị Hải Yến, (1992), người Tân Trào, sinh con gái Hoàng Hoài An năm 2016.

* Hoàng Thái Bảo, sinh năm Kỷ Sửu (2009)

b) Con trai là Hoàng Trung Kiên (Đời thứ 7) sinh năm 1973, Đại học Tài chính, công tác ngành thuế. Con dâu là Nguyễn Thị Hiền sinh năm 1976. Gia đình ở thôn Cây Thị trên mảnh đất của ông bà nội (Hoàng Văn Duyên và Dương Thị Thuận) khai phá và lập nghiệp khi xưa.
Hoàng Trung Kiên và Nguyễn Thị Hiền sinh ra Đời thứ 8:
*Hoàng Thu Trang, sinh năm Bính Tý (1996), chồng là Bùi Quang Phúc (1989), người xã Sơn Nam, có con gái Hoàng Như Thảo sinh 2016.

* Hoàng Huyền Mỹ, sinh năm Canh Dần (2010)
c) Con gái là Hoàng Thị Thảo Phương (Đời thứ 7) sinh năm 1979, tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội, đảng viên, Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Na Hang và Thẩm phán TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
d) Con trai út là Hoàng Mạnh Cường (Đời thứ 7) sinh năm Giáp Tý (1984), tốt nghiệp Đại học Công nghệ Sinh học và Đại học Tài chính. Làm việc ở Trung tâm Xúc tiến Thương mại tỉnh Hà Giang. Vợ là Đàm Thị Phương Anh (1988) sinh con gái là Hoàng Mai Nhi (2014) và con trai là Hoàng Công Đĩnh (2016)

 (4) Hoàng Thị Huề (Đời thứ 6).
 Hoàng Thị Huề còn nhỏ gọi là Tít, đi học gọi là Hợi, sinh ngày 11/7 năm 1952 (Nhâm Thìn) đi làm khai l953. Giờ sinh là giờ Tỵ. Mất khoảng 19-20 giờ ngày 9/11/2013, tức ngày mùng 7 (Kỷ Mão) tháng 10 (Quí Hợi) năm Quí Tỵ

Học trung cấp sư phạm, là giáo viên Tiểu học. Chồng là Trần Văn Minh sinh năm 1954, tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam, giải ngũ về làm ruộng, làm thuốc gia truyền chữa bệnh cho nhân dân. Gia đình hiện nay ở thôn Cầu Xi xã Thiện Kế, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
 Hoàng Thị Huề và Trần Văn Minh  sinh ra:
a. Con trai là Trần Văn Phong (Đời thứ 7) sinh 1982, công nhân, chủ doanh nghiệp sửa chữa xe ô tô; vợ thứ hai là Dương Thị Nga.

 * Con vợ thứ nhất là Trần Ngọc Anh (Đời thứ 8) sinh Quí Mùi-2003
* Con vợ thứ hai là Trần Bảo Linh (Đời thứ 8) sinh Nhâm Thìn-2012
b. Con gái là Trần Thị Liên (Đời thứ 7)  sinh năm 1974
c. Con gái là Trần Thị Lan (Đời thứ 7)  sinh năm 1984
Hoàng Thị Huề  và Trần Văn Minh có hai cháu ngoại Đời thứ 8 là Trần Thị Diễm (2002) và Ôn Phương Ly (2003).

(5) Hoàng Thị Ất (Đời thứ 6).
Hoàng Thị Ất sinh ngày 3 tháng 6 năm Ất Mùi (1955). Hoàng Thị Ất và Hoàng Thị Mùi là hai chị em sinh đôi, khi còn nhỏ còn có tên gọi là Bầu Bí. Tốt nghiệp Trung cấp Thương mại, làm việc ở Công ty Thực phẩm Sơn Dương. Chồng là Mai Ngọc Quyết  sinh 1955, tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam, nghỉ chế độ, chủ doanh nghiệp kinh doanh. Gia đình ở thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Hoàng Thị Ất và Mai Ngọc Quyết sinh được hai con trai:

aMai Hoàng Chiến (Đời thứ 7) sinh năm 1980, tốt nghiệp Đại học Lao động Xã hội, công tác ở Văn phòng Trung ương Đảng. Vợ là Nguyễn Thanh Phong (1984) công chức nhà nước ở huyện, sau chuyển về Văn phòng Trung ương Đảng. Gia đình ở Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội. Mai Hoàng Chiến và Nguyễn Thanh Phong sinh ra Đời thứ 8:
* Mai Hoàng Đức Anh, sinh năm Mậu Tý-2008.
* Mai Hoàng Anh Kiệt, sinh năm Quí Tỵ-2013.
b. Mai Hoàng Quyền (Đời thứ 7) sinh năm 1982, chủ doanh nghiệp kinh doanh và xây dựng du lịch-văn hóa. Vợ là Trần Thị Thu Dung (1984), tốt nghiệp Đại học sư phạm, giáo viên Trung học phổ thông. Gia đình ở thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Mai Hoàng Quyền và Trần Thị Thu Dung sinh ra Đời thứ 8:
 * Mai Ngọc Linh, sinh năm Mậu Tý-2008

 * Mai Diệu Linh, sinh năm Mậu Tý-2008.
(Mai Ngọc Linh và Mai Diệu Linh là hai chị em sinh đôi cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, nhưng khác giờ sinh).

(6) Hoàng Thị Mùi (Đời thứ 6)
Hoàng Thị Mùi sinh ngày 3 tháng 6 năm Ất Mùi (1955). Hoàng Thị Mùi và Hoàng Thị Ất là hai chị em sinh đôi vào giờ Dần, khi còn nhỏ còn có tên gọi là Bí Bầu. Tốt nghiệp Y sỹ, Trung cấp Thương mại, làm việc ở Công ty Bách hóa Tuyên Quang, về Hà Nội làm y tế tại Nhà máy in tiền Quốc gia. Chồng là Đào Mạnh Phú sinh năm 1949, tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam, Kỹ sư Xây dựng, công tác ở Văn phòng tỉnh ủy Tuyên Quang, sau này về Văn phòng Trung ương Đảng, học thêm nghề thuốc, kế nghiệp Nhà thuốc Lục Tiên Đường của Cụ Lang Cách. Gia đình ở ngõ 81 đường Lạc Long Quân,  số nhà 64, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Hoàng Thị Mùi và Đào Mạnh Phú sinh được ba người con:
a. Con gái là Đào Hoàng Anh (Đời thứ 7) sinh năm 1978, tốt nghiệp Đại học An Ninh, công tác ở Công an quận Ba Đình; chồng là Hà Trung Tuyến (sinh 1978) quê Hà Giang; tốt nghiệp Đại học An Ninh; công tác ở Bộ công an. Gia đình ở Hà Nội.
Đào Hoàng Anh và Hà Trung Tuyến sinh ra Đời thứ 8:
* Hà Viết Trường sinh năm Tân Tỵ-2001
* Năm Canh Dần-2010 sinh đôi là Hà Viết Khánh và Hà Viết Thanh.  

b. Con gái là Đào Hoàng Yến (Đời thứ 7) sinh năm 1981, công tác ở ngành ngân hàng; chồng là Vũ Mạnh Cường (1981), quê Hà Nam, công tác ở Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng. Đào Hoàng Yến và Vũ Mạnh Cường sinh ra Đời thứ 8:
* Vũ Hoàng Dung, sinh năm Ất Dậu-200
* Vũ Hoàng Dương, sinh năm Tân Mão-2011
c. Con trai là Đào Mạnh Hưng (Đời thứ 7) sinh 1990, Đại học Y học Cổ truyền Hà Nội.

 (7) Hoàng Văn Oanh (Đời thứ 6)
Hoàng Văn Oanh sinh ngày 14 tháng 5 năm Kỷ Hợi (1959). Tốt nghiệp Đại học An ninh, có thời gian công tác ở Công an huyện Xí Mần, về Hà Nội làm Bí thư Đoàn Thanh niên, giáo viên Học viên An ninh; vợ là Nguyễn Thị Kim Ngọc sinh năm 1960, trung cấp An ninh. Gia đình ở Tập thể Học viện An ninh, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

Hoàng Văn Oanh và Nguyễn Thị Kim Ngọc sinh được một con gái và một con trai:
a. Con gái là Hoàng Thị Diệu Linh (Đời thứ 7) sinh năm 1984, tốt nghiệp Đại học Cảnh sát, công tác ở Công an Thành phố Hà Nội; chồng là Nguyễn Xuân Tiến sinh năm 1983, tốt nghiệp Đại học Cảnh sát công tác ở Học viện An ninh Hà Nội.
Hoàng Thị Diệu Linh và  Nguyễn Xuân Tiến sinh ra Đời thứ 8. Sau đó ly hôn.
* Nguyễn Hoàng Anh, sinh Canh Dần-2010.

*Nguyễn Hoàng Trung,sinh Nhâm Thìn-2012.
b. Con trai là Hoàng Mạnh Hưng (Đời thứ 7) sinh 1994. Học xong Trung học phổ thông, vào học tại Học Viện An ninh (trường C 500).

(8) Hoàng Thị Nụ (Đời thứ 6)
Hoàng Thị Nụ sinh giờ Dần, ngày 26 tháng 9 năm Giáp Thìn (1964). Tốt nghiệp Đại học sư phạm, Đại học Xuất bản, Trưởng phòng Tổng hợp Văn xã Văn phòng UBND tỉnh, đại biểu HĐND tỉnh, Phó Trưởng Ban công tác Dân tộc  Hội đồng Nhân dân tỉnh Tuyên Quang. Gia đình ở phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

* Xây dựng gia đình với Nguyễn Cao Đang, sinh một con trai là Nguyễn Cao Dũng (Đời thứ 7), sau đó ly hôn.
a. Nguyễn Cao Dũng sinh năm 1987, Đại học Thể dục Thể thao, làm việc ở Trung tâm Thể thao tỉnh Tuyên Quang. Vợ là Nguyễn Thanh Dung (sinh 1986)

2Chi bà HOÀNG THỊ TÍNH (Đời thứ 5)
Bà Hoàng Thị Tính sinh năm 1925, (Ất Sửu). Bà Tính lấy ông Lê Văn Lịch  ở thôn An Đinh, xã Kỳ Lâm cùng huyện. Ông Lê Văn Lịch mất ngày 07/01/2002 (Nhâm Ngọ). Bà Hoàng Thị Tính sống cùng con trai cả và con dâu là Lê Văn Tâm. Bà mất ngày 14 tháng 4…….(20….) Bà Hoàng Thị Tính và ông Lê Văn Lịch sinh được 5 người con Đời thứ 6:

  (1) Lê Văn Tâm vợ là Lự Thị Đào. Hiện nay ở  An Đinh, xã Kỳ Lâm, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang.
 (2) Lê Văn Thiện, vợ là Trần Thị Hoan.
 (3) Lê Thị Điển, chồng là Hà Văn Lâm (mất) ở xã Hợp Hòa, Sơn Dương.
 (4) Lê Văn Tải, vợ là Lương Thị May.
  (5) Lê Văn Dương, vợ là Hoàng Thị Tuấn.

3. Chi ông HOÀNG VĂN HỢP (Đời thứ 5)
Ông Hoàng Văn Hợp sinh ngày 10 tháng 10 năm 1929 (Kỷ Tỵ). Trong lý lịch trích ngang ông Hoàng Văn Hợp có ghi: Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mới 16 tuổi. Năm 1947 Huynh Trưởng Thiếu niên Cứu Quốc. Năm 1949 vào thanh niên cứu quốc. Năm 1950 Trung đội phó Dân quân và được kết nạp Đảng Lao động Việt Nam. Từ năm 1951-1953 làm Tổ phó Tá Dịch tại Bộ Y Tế. Năm 1954-1957 y tá Tổng cục Đường sắt Việt Nam. Năm 1958 về quê, tham gia Chi ủy xã, Y tá xã Hợp Thành. Từ 1959-1960 ủy viên hành chính xã-Chủ nhiệm HTX. Cũng trong năm 1960 huyện uỷ Sơn Dương điều ra huyện làm Bí Thư huyện Đoàn-Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, nhiều năm tham gia huyện ủy. Sau đó chuyển sang Ủy ban Nhân dân huyện Sơn Dương làm Trưởng Phòng Tổ chức Chính quyền.

Ông Hoàng Văn Hợp về nghỉ hưu ở thôn Cây Thị, xã Hợp Thành và mất đột ngột ngày 14/4/2001 (Tân Tỵ). Mộ ông Hoàng Văn Hợp an táng ở ruộng Cây Lai, cánh đồng Vực Dài thuộc thôn Cây Thị, xã Hợp Thành, Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Ông Hoàng Văn Hợp kết duyên với bà Tình Thị Hưởng (sinh 1930) là người ở Cầu Quất thuộc Tú Tạc, xã Tú Thịnh, sinh được bảy người con:
 (1) Hoàng Thái Hoà (Đời thứ 6)
 Hoàng Thái Hoà sinh năm 1953. Học xong phổ thông, năm 1971 tham gia Quân đội Nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ, là lính đặc công. Năm 1975, chiến đấu bị thương ở Thành phố Đà Nẵng, hiện là thương binh đặc biệt được Nhà nước nuôi dưỡng và chăm sóc 100%.  Hoàng Thái Hòa kết duyên với Vương Thị Chỉnh sinh năm 1956 và định cư tại quê vợ ở làng Lại Đà, xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.

a. Con trai là Hoàng Thái Hùng (Đời thứ 7) sinh năm 1984, thợ cơ khí lành nghề, chủ doanh nghiệp; con dâu là Nguyễn Thị Tình sinh năm 1984, làm việc tại Công ty may Đức Giang và mở Xưởng may riêng tại nhà. Hoàng Thái Hùng và Nguyễn Thị Tình  sinh ra Đời thứ 8:
* Con gái Hoàng Phương Thảo, sinh năm 2008 (Mậu Tý).

* Con trai Hoàng Hùng Minh, sinh năm 2016 (Bính Thân).

 (2). Hoàng Thị Nhã (Đời thứ 6)
 Hoàng Thị Nhã sinh năm 1957. Tốt nghiệp Trường Công nghiệp Việt Bắc (Thái Nguyên), về công tác ở xí nghiệp cơ khí huyện Sơn Dương. Chồng là Lương Hải Bằng sinh năm 1956, Thẩm phán, Chánh án Toàn án huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Gia đình sống tại Thị trấn Sơn Dương. Hoàng Thị Nhã và Lương Hải Bằng sinh ra:

a) Con gái Lương Thị Bích Phượng (Đời thứ 7) sinh năm 1982, giáo viên Trường Mầm non Hợp Thành; chồng là Ngô Văn Quyền (1981) làm việc tại Nhà máy Chè Tân Trào Sơn Dương. Lương Thị Bích Phượng và Ngô Văn Quyền sinh ra Đời thứ 8:
* Ngô Nam Hải, sinh năm 2008 (Mậu Tý).

* Ngô Tiến Minh, sinh năm 2013 (Quí Tỵ)
Gia đình hiện nay sống tại thôn Bắc Lũng, thị trấn Sơn Dương.
b) Con trai Lương Hải Giang (Đời thứ 7) sinh năm 1984, cảnh sát Trại giam Quyết Tiến; sống cùng cha mẹ. Vợ là Phạm Thị Nga, (năm 1996) sinh ra Đời thứ 8 là Lương Đức Duy năm 2016 (Bính Thân)

(3). Hoàng Thị Liên (Đời thứ 6)
Hoàng Thị Liên sinh năm 1959, chồng là Nguyễn Văn Khanh sinh 1958. Nhà ở ngoài đường quốc lộ 37, thôn Đồng Búc, xã Hợp Thành. Hoàng Thị Liên và Nguyễn Văn Khanh có 4 người con:
a. Con trai Nguyễn Văn Thoại (Đời thứ 7), sinh năm Canh Thân (1980); vợ là Nguyễn Thị Thơm (1983) Kinh doanh hàng ăn tại nhà ở thôn Chầm, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Sinh được hai người con:

* Nguyễn Hải Anh (2004)
* Nguyễn Việt Trường (2007).
b. Con gái Nguyễn Thị Thanh, sinh năm Nhâm Tuất (1982); chồng là Cù Thành Nam (1975) ở thôn Chầm, xã Hợp Thành, sinh được hai con trai: Cù Thành Luân (2002), Cù Thanh Hải (2008)
c. Con gái Nguyễn Thị Minh, sinh năm Ất Sửu (1985), học dược về mở hiệu kinh doanh thuốc tân dược ở thôn Chầm, xã Hợp Thành; chồng là Lương Thanh Bình (1978); sinh được hai con trai:
* Lương Trung Nguyên (2006),
* Lương Trung Đức (2012)
d. Con trai Nguyễn Văn Tuấn, sinh năm Đinh Mão (1987), kinh doanh tự do ở Cầu Giấy, Hà Nội. Vợ là Hoàng Thị Lệ (1988) ở thôn Trúc Khê, xã Hợp Thành, học Quản trị kinh doanh, làm việc tại Công ty Dược Mỹ Đình, Hà Nội. Sinh con trai là Nguyễn Gia Khánh (2014)
 (4). Hoàng Văn Hiệp (Đời thứ 6)
Hoàng Văn Hiệp, sinh năm 1960 vợ là Vũ Thị Hồng sinh năm 1967 ở Tân Kỳ (Nông trường Tân Trào-Sơn dương). Hiện tại làm nông tại thôn Cây Thị, xã Hợp thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Hoàng Văn Hiệp và Vũ Thị Hồng sinh ra Đời thứ 7 được ba người con (hai trai và một gái):
a. Con trai Hoàng Minh Sỹ, sinh năm 1989, hiện làm nghề tự do ở thôn Cây Thị, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
b. Con trai thứ hai Hoàng Tiến Mạnh, sinh năm 1991, làm nghề tự do ở Hà Nội; vợ là Lê Thị Lý Phương, sinh năm 1992  quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, năm 2016 sinh được con trai:
* Hoàng Mạnh Cường (2016)
Hiện tại 2018 ở với gia đình bố mẹ tại thôn Cây Thị.
c. Con gái là Hoàng Thu Huế, sinh năm 1993, học kế toán lấy chồng là Trịnh Việt Thái, sinh năm 1990, học Đại học Công nghiệp Hà Nội hiện tại làm kinh doanh tại nhà ở Tổ 5 phường Nông Tiến, thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang). Năm….. một con trai………?

 (5) . Hoàng Văn Nghị (đời thứ 6)
Hoàng Văn Nghị sinh năm 1962. Học trung cấp Nông nghiệp T.235 về làm nghề xây dựng tại thôn Cây Thị, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Vợ là Đỗ Thị Hiên, sinh năm 1963 ở thôn Cây Mơ (cùng xã Hợp Thành), hiện làm nông tại Thôn Cây Thị Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Hoàng Văn Nghị và Đỗ Thị Hiên sinh được 2 người con (Đời thứ 7):
a. Con trai là Hoàng Văn Nghĩa, sinh năm 1988 (Mậu Thìn), học Đại học Bách khoa, hiện làm kinh doanh tự do ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Vợ là Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1989 ở xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh,  học tại Học viện Tài chính. Gia đình làm kinh doanh tự do ở Hà Nội.

Hoàng Văn Nghĩa và Nguyễn Thị Hà năm 2016 sinh được một con gái  là:
* Hoàng Nguyễn Khả Hân .
b.Con gái là Hoàng Thị Hương, sinh năm 1992 (Nhâm Thân), học kế toán, ra trường làm kế toán ở thành phố Tuyên Quang. Chồng là Lê Anh Dũng,  sinh năm 1989 ở thôn Cầu Trắng xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Học lái xe và làm nghề vận tải hàng hóa . 

(6). Hoàng Thị Biên (đời thứ 6)
Hoàng Thị Biên sinh năm 1966, lấy chồng là Trần Minh Quân sinh năm 1959, ở thôn Phú thọ 1, xã Lâm Xuyên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Gia đình làm nông nghiệp, sinh được 4 người con và còn lại 3 (đời thứ 7).
a. Con gái là Trần Thị Bình sinh năm 1985, chồng là Dương Xuân Phúc sinh năm 1983, ở phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Gia đình làm nghề kinh doanh buôn bán tại nhà. Trần Thị Bình và Dương Xuân Phúc sinh được 2 con trai là:
* Dương Nam Khánh (năm 2010)
*.Dương Minh Thành (năm 2014) .
b. Con gái thứ hai là Trần Thị Trang sinh năm 1988, lấy chồng là Nguyễn Văn Công sinh năm 1986, ở thôn Phú Thọ 1 xã Lâm Xuyên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Gia đình làm nông nghiệp. Trần Thị Trang và Nguyễn Văn Công sinh được 3 người con là:
* Nguyễn Thị Mến (năm 2009);
* Nguyễn Thị Ly (năm 2011)
* Nguyễn Văn Sơn (năm 2013)
c. Con gái thứ ba là Trần Minh Thương sinh năm 2008, hiện là học sinh tại Lâm Xuyên.

(7). Hoàng Thị Thùy sinh năm 1969, chồng là Ma Văn Quang sinh năm 1967, ở thôn Tứ Thông, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Gia đình làm nông nghiệp và sinh được 3 người con.
a. Con gái  Ma Thị Lan sinh năm 1988, học nghề dược; chồng là Nguyễn Quang Đại sinh năm 1982 ở thôn Tứ Thông cùng xã Hợp Thành. Gia đình làm nông nghiệp và chăn nuôi gia đình. Ma Thị Lan và Nguyễn Quang Đại năm 2011 sinh được một con trai là * Nguyễn Quốc Việt (2011).
b. Con gái thứ hai là Ma Thị Quế sinh năm 1990, chồng là Nguyễn Văn Lợi sinh năm 1980, quê ở xã Việt Long, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Gia đình làm kinh doanh buôn bán tự do. Ma Thị Quế và Nguyễn Văn Lợi năm 2011 sinh được 1 con trai là
* Nguyễn Kim Phương  (2011).
c. Con trai là Ma Công Minh sinh năm 1992, làm nghề tự do.

Đến đây…!

4. Chi bà HOÀNG THỊ HOAN (Đời thứ 5

Bà Hoàng Thị Hoan sinh năm 1932 (Nhâm Thân) lấy ông Lương Văn Cảnh sinh năm 1930 (Canh Ngọ), ơ thôn Đồng Búc, Làng Chầm cùng xã Hợp Thành. Ông Lương Văn Cảnh là con trai út trong một gia đình họ Lương, có chức sắc trong làng, trong xã và trong tổng Bắc Lũng xưa. Ông Lương Văn Cảnh có một thời gian dài tham gia quân đôi, làm quân y sỹ, sau khi giải ngũ về làm Trưởng Trạm y tế xã Hợp Thành. Bà Hoàng Thị Hoan và ông Lương Văn Cảnh sống cùng vợ chồng người con trai út là Lương Văn Đương.

Bà Hoàng Thị Hoan và ông Lương Văn Cảnh sinh ra Đời thứ 6 được 5 người con (ba trai, hai gái):

(1) Lương Văn Hợi; vợ là Nguyễn Thị Tuyết. Lương Văn Hợi là chủ doanh nghiệp khai thác mỏ.

(2) Lương Thị Toán, mất năm 1990; chồng là Ma Văn May nhà ở thôn Cây Thị, xã Hợp Thành, Sơn Dương.

(3) Lương Văn Khải, công tác ở xã, nhiều năm làm Chủ tịch UBND và Đảng ủy xã Hợp Thành; vợ là Nguyễn Thị Quyên.

(4) Lương Thị Thoa; chồng là Nguyễn Văn Đức.

(5) Lương Văn Đương; vợ là Trần Thị Tuệ.

5. Chi ông HOÀNG THÁI LONG (Đời thứ 5)|
Ông Hoàng Thái Long sinh năm 1934 (Giáp Tuất). Ông sinh ra và lớn lên tại thôn Bình Phú, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Ông tham gia công tác và vào đảng lao động Việt Nam ở địa phương. Trong chiến tranh chống Mỹ, khi ông đang là Phó Chủ nhiệm HTX Hợp nhất Bình Phú (xã Hợp Thành) thì có giấy gọi lên đường nhập ngũ ngày 16 tháng 9 năm 1968. Ông tham gia quân ngũ được hơn một năm, là chiến sỹ ở Đơn vị E 268, K21, trong một trận chống càn, ông đã hy sinh ngày 19 tháng 12 năm 1969 (Kỷ Dậu) tại Mặt trận Trảng Bàng Tây Ninh. (Theo Giấy Báo Tử của Bộ Chỉ Huy Quân sự tỉnh Hà Tuyên số  32 TH ngày 30/7/1976 do Trung tá  Hoàng Đạo ký tên và đóng dấu thì ông Hoàng Thái Long sinh năm 1938).
Suốt 37 năm (1969-2006) các con, cháu (Lâm, Hồng) và gia đình có đi tìm, nhưng không biết phần mộ ông Hoàng Thái Long nằm ở đâu. Trong một chuyến đi công tác các tỉnh phía Nam, vào đêm ngày 19 tháng 9 năm 2006 (tức ngày 27 tháng 7 năm Bính Tuất), rạng sáng ngày 20 tháng 9 năm 2006 (tức ngày 28 tháng 7 năm Bính Tuất) nhờ Nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên (Trung tâm Tiềm năng Con người Việt Nam) đang nghỉ ở quê huyện Tứ Kỳ (Hải Dương) chỉ dẫn, người cháu là Hoàng Nguyên Hồng (con trai ông Hoàng Văn Duyên) và cùng bạn hữu đã tìm thấy mộ chí của ông Hoàng Thái Long. Mộ chí của ông Hoàng Thái Long đặt tại cánh Sao số 5, ngôi Mộ số 3 (tính ngược kim đồng hồ) từ một mộ đã có tên, tại Nghĩa trang huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Ngày 25 tháng 9 năm 2010 tức ngày 19 tháng 8 năm Canh Dần được sự giúp đỡ, chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ban Dân vận tỉnh Tây Ninh (Ba Đức, anh Hợp, anh Lạc), Sở LĐTBXH (anh Thanh) và UBND huyện, Phòng LĐTBXH huyện Hòa Thành (anh Tuệ, anh Trẻ, ông Hai Xê) đã tiến hành gắn bia Liệt sỹ Hoàng Thái Long lên bia mộ vô danh số 3, nằm giữa cánh sao số 5 tại Nghĩa trang huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Trên Bia mộ có ghi: “Liệt sỹ HOÀNG THÁI LONG. Quê quán Hợp Thành, Sơn Dương, Tuyên Quang. Cấp bậc, chức vụ: Hạ sỹ, Chiến sỹ. Đơn vị: E 268, K21. Hy sinh ngày 19 tháng 12 năm 1969”. Sau khi xác định được danh tính và vị trí ông Hoàng Thái Long ở khu mộ vô danh số 3, Ban quản lý Nghĩa trang Hòa Thành đã chuyển xương cốt của ông Hoàng Thái Long về khu mộ có tên cùng đồng đội. Hiện nay, mộ chí của ông Hoàng Thái Long nằm trên cánh sao số 4, số mộ 203 Nghĩa trang Hòa Thành, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
Ông Hoàng Thái Long kết hôn với bà Lý Thị Tuất . Bà Lý Thị Tuất là người ở thôn An Đinh (trước cách mạng 1945 gọi là Thượng Châu), xã Kỳ Lâm cùng huyện Sơn Dương. Bà sinh năm 1934 (cùng tuổi ông Long) và mất năm 2006. Bà Lý Thị Tuất là con của một gia đình dòng họ Lý nhiều người có chức sắc và danh tiếng trong vùng, thuộc loại gia đình giầu có và định cư tại Thượng Châu từ lâu đời.
Sau khi ông Hoàng Thái Long nhập ngũ (tháng 9 năm 1968), các con của ông Long còn nhỏ (lớn mới 14 tuổi) nhưng được ông bác cả (anh trai ông Long) là ông Hoàng Văn Duyên và anh trai thứ là Hoàng Văn Hợp, cùng anh chị em trong họ dìu dắt, hướng dẫn và sự giúp đỡ của bà con và thôn xóm, nên từng bước sáu người con của ông Hoàng Thái Long được ăn học, khôn lớn, lấy vợ, gả chồng yên bề gia thất và thành sáu gia đình con cháu đông vui như hiện nay.
Bà Lý Thị Tuất đột ngột qua đời (mất), sau một cơn đau tim vào ngày 29 tháng 5 năm Bính Tuất (tức ngày 24/6/2006). Mộ bà Lý Thị Tuất táng ở núi Dốc Đất Đỏ, thôn Cây Thị, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và được cải táng về cánh đồng bờ ngòi thôn Cây Thị hiện nay. Ngày giỗ của bà Lý Thị Tuất là 29 tháng 5 âm lịch hàng năm.
Ông Hoàng Thái Long và bà Lý Thị Tuất sinh được 6 người con. Sáu người con của ông Hoàng Thái Long và bà Lý Thị Tuất đã trưởng thành, lập gia đình, yên bề gia thất, có cháu (Đời thứ 7) và chắt (Đời thứ 8).

(1) Hoàng Văn Sơn (Đời thứ 6), sinh năm 1954.
Sau khi học xong phổ thông, Hoàng Văn Sơn trong nhiều năm tham gia công tác ở địa phương, kinh qua các vị trí lãnh đạo trong Đảng ủy, Chủ tịch HĐND và Ủy ban Nhân dân xã Hợp Thành. Nay nghỉ hưu và cư trú tại thôn Cây Thị, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Hoàng Văn Sơn kết duyên cùng Bùi Thị Mùi (sinh 1955), quê gốc ở Nam Định theo cha mẹ lên định cư tại xã Hợp Thành. Hiện nay, gia đình sống tại ngôi nhà cũ của bà Lý Thị Tuất trên thửa đất cạnh nhà ông bác cả Hoàng Văn Duyên trước đây ở thôn Cây Thị, xã Hợp Thành.
Hoàng Văn Sơn và Bùi Thị Mùi sinh được bốn người con:
a) Con gái là Hoàng Thị Mến (Đời thứ 7) sinh năm 1976, tốt nghiệp Khoa Tiểu học Đại học Sư phạm, giáo viên Tiểu học. Sau khi học xong sư phạm, lên dạy học và lập gia đình tại huyện Xí Mần, tỉnh Hà Giang. Chồng là Hoàng Quang Huỳnh (sinh 1974) người xã Khuân Lùng, huyện Xí Mần, Hà Giang. Tốt nghiệp Khoa Tiểu học Đại học Sư phạm, giáo viên Tiểu học huyện Xí Mần, Hà Giang.
Hoàng Thị Mến và Hoàng Quang Huỳnh sinh ra Đời thứ 8:
+ Hoàng Thành Công (1999) sống cùng ông bà ngoại tại thôn Cây Thị và học tại các trường ở Hợp Thành và huyện Sơn Dương.

+ Hoàng Minh Đức (2006). Gia đình định cư ở Thị trấn huyện Xí Mần, tỉnh Hà Giang.
b) Con trai là Hoàng Công Nội (Đời thứ 7) sinh năm 1978. Sinh ra và lớn lên tại thôn Cây Thị, xã Hợp Thành. Học địa chính tại Đại học Thái Nguyên. Về làm công chức địa chính xã Phúc Ứng. Vợ là Nguyễn Thị Lụa sinh năm 1982, tốt nghiệp Khoa mầm non Trường Cao đẳng sư phạm, giáo viên mầm non xã Phúc Ứng.

Hoàng Công Nội và Nguyễn Thị Lụa sinh ra Đời thứ 8 là :
 Hoàng Phương Thúy (2006)
+ Hoàng Kiều Oanh (2013).
Gia đình hiện nay ở xã Phúc Ứng, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
c) Con trai là Hoàng Văn Tuyên (Đời thứ 7) sinh năm 1981. Học Cao đẳng sư phạm Tuyên Quang, về dạy tại Trường Khuân Lùng, Xí Mần, tỉnh Hà Giang. Vợ là Nguyễn Thị Phượng, sinh 1982, tại huyện Vị Xuyên, tốt nghiệp Đại học Kế toán Tài chính, làm kế toán tại UBND xã Khuân Lùng, huyện Xí Mần, tỉnh Hà Giang.
Hoàng Văn Tuyên và Nguyễn Thị Phượng, sinh ra Đời thứ 8
Hoàng Minh Quang (2005)

+ Hoàng Hà Giang (2012).
Hiện nay, gia đình định cư ở huyện Xí Mần, tỉnh Hà Giang.
d) Con gái là Hoàng Thị Lan, sinh 1984 (Đời thứ 7), tốt nghiệp Trung cấp y dược, kinh doanh thuốc tân dược tại Cửa hàng Dược Hoàng Lâm Sơn Dương, nay mở Quầy thuốc tại Tân Kỳ thị trấn Sơn Dương. Chồng là Bùi Anh Điệp (1978), kinh doanh vận tải.
Hoàng Thị Lan và Bùi Anh Điệp sinh ra Đời thứ 8
+ Bùi Hoàng Anh (2009)

+ Bùi Hoàng Yến (2013).
Gia đình hiện nay ở Tân Kỳ, thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

(2) Hoàng Văn Lâm sinh năm 1956 (Đời thứ 6). Hoàng Văn Lâm sinh ra và lớn lên tại xã Hợp Thành, học tại Trường Bổ túc Công nông và Phổ thông Vùng cao Việt Bắc. Tốt nghiệp Đại học Dược khoa Hà Nội. Ra trường về Tuyên Quang làm việc tại Công ty Dược Sơn Dương, nhiều năm làm Giám đốc Công ty và lãnh đạo đảng trong Công ty Dược Sơn Dương. Sau này được điều chuyển và bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty Dược tỉnh Tuyên Quang và làm việc cho đến khi về hưu. Sau khi nghỉ hưu, mở công ty dược tư nhân, là chủ Doanh nghiệp Dược Tư nhân Hoàng Văn Lâm ở Thị trấn Sơn Dương.
Vợ là Chu Thị Minh Thơm (sinh 1958), tại xã Trung Yên, huyện Sơn Dương. Học Trường Phổ thông Dân tộc Vùng cao Việt Bắc ; học Đại học Sư phạm Việt Bắc, tốt nghiệp ra trường về dạy học tại Trường Phổ thông Trung học Sơn Dương. Gia đình hiện nay ở Thị trấn Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Hoàng Văn Lâm và Chu Thị Minh Thơm sinh Đời thứ 7 :
a) Con trai là Hoàng Đông Thảo (1983) sinh ra và lớn lên tại Thị trấn Sơn Dương, hiện nay kinh doanh thuốc Tân dược. Vợ là Trần Thị Liên (1984) người ở xã Quyết Thắng, hiện cùng kinh doanh thuốc tân dược tại Quầy thuốc Hoàng Lâm Thị trấn Sơn Dương.
Hoàng Đông Thảo và Trần Thị Liên sinh ra Đời thứ 8
Hoàng Nhật Linh (2009-Kỷ Sửu)

+ Hoàng Bảo Chi (2013)
Gia đình hiện nay ở và kinh doanh tại  Thị trấn Sơn Dương.
b) Con gái là Hoàng Lệ Thu, sinh năm 1987 (Đời thứ 7). Sinh ra và lớn lên tại Thị trấn Sơn Dương. Tốt nghiệp Phổ thông, thi vào Trường Đại học Dược Hà Nội, là sinh viên liên tục học giỏi, nhiều năm làm lãnh đạo lớp. Sau khi tốt nghiệp Đại học Dược Hà Nội, ra trường làm việc tại Công ty PhiZer ở Hà Nội. Chồng là Võ Minh Đức (1987) quê gốc Nghệ An, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Bạn học cùng trường Đại học Dược Hà Nội.
Hoàng Lệ Thu và Võ Minh Đức sinh ra Đời thứ 8:
+ Võ Minh Thư (2012-Nhâm Thìn).
+ Võ Minh Trí (2018-Mậu Tuất).

Hiện nay gia đình ở đường  Đào Tấn, thành phố Hà Nội.

(3) Hoàng Thị Hợi sinh năm 1959 (Đời thứ 6) Hoàng Thị Hợi sinh ra và lớn lên tại xã Hợp Thành, sau đó đi học trung cấp kỹ thuật cơ khí, ra trường về làm việc tại Nhà máy Cơ khí X300 Hưng Thành, huyện Yên Sơn (Tuyên Quang). Chồng là Trần Văn Thà sinh  năm 1949, quê ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Gia đình định cư, lập nghiệp ở Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Hoàng Thị Hợi và Trần Văn Tha sinh Đời thứ 7, hai người con:
a) Con trai là Trần Văn Lực (1984), sinh ra và lớn lên tại xã Hưng Thành, Yên Sơn, Tuyên Quang. Học lái máy, làm việc tại Công ty TNHH Hưng Thành. Vợ là Vũ Thị Yến (1984) người xã Tứ Quận (Yên Sơn, Tuyên Quang), làm giáo viên tại huyện Bảo Yên, tỉnh Lao Cai.
Trần Văn Lực và Vũ Thị Yến sinh ra Đời thứ 8:
+ Trần Hoang Quân (Tân Mão-2011)

+ Trần Đức Kiên (2014)
Gia đình hiện nay sống tại Hưng Thành, Yên Sơn, Tuyên Quang.
b) Con gái là Trần Minh Loan (1986), sinh ra và lớn lên tại Hưng Thành. Học tài chính, làm kế toán, ra trường làm việc tại Công ty Kinh doanh thuốc Đông dược phường Hữu Nghị, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Chồng là Bùi Xuân Lộc (1983) sinh ra tại phường Hữu Nghị, thành phố Hòa Bình, kinh doanh tại nhà (thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình).
Trần Minh Loan và Bùi Xuân Lộc sinh ra Đời thứ 8: + Bùi Hoàng Linh (Tân Mão-2011).

(4) Hoàng Bình Trọng sinh ngày 16/7/1961 (Đời thứ 6).
Hoàng Bình Trọng sinh ở thôn Cây Thị xã Hợp Thành. Học xong phổ thông vào làm việc ở Đội Hình sự Công an tỉnh Hà Tuyên (hợp nhất hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang). Nghỉ công tác ở ngành Công an tỉnh Hà Tuyên, về làm vệ sỹ bảo vệ tại Công ty Khoáng sản Tuyên Quang. Sau thời gian lâm bệnh, Hoàng Bình Trọng mất ngày 09/12/2015 (tức ngày 28/10/Ất Mùi), mộ chí an táng tại Nghĩa trang phường Ỷ La, thành phố Tuyên Quang. Vợ là Dương Thị Nga, sinh ngày 29/11/1971, tại xã Lâm Xuyên, huyện Sơn Dương; làm việc tại Công ty Khoáng sản Tuyên Quang. Gia đình hiện nay ở phường Ỷ La, thành phố Tuyên Quang.

Hoàng Bình Trọng và Dương Thị Nga sinh ra Đời thứ 7:
a) Con trai Hoàng Công Tự, sinh năm 1993 (Quý Dậu) tại Thị trấn Sơn Dương (Tuyên Quang). Học Kế toán Tài chính tại Trường Kinh tế Tuyên Quang, ra trường làm việc ở Công ty Khoáng sản Tuyên Quang.
b) Con trai Hoàng Dương Hoài Nam, sinh năm 2003 (Quí Mùi) tại Thị trấn Sơn Dương (Tuyên Quang). Hiện đang học phổ thông.
c) Đó là hai người con chung của Hoàng Đình Trọng với Dương Thị Nga. Còn chuyện cơ mật về huyết thống họ Hoàng liên quan đến Hoàng Đình Trọng với Ma Thị Lê (1961) con gái ông Ma Ngọc Thức và bà Lương Thị Tiệp đã có với nhau một con trai là Ma Văn Thể (sinh 1986).
Việc này, lúc đầu định giao lại cho cháu Hoàng Đông Thảo (anh trai con bác) khi nào đủ điều kiện và hoàn cảnh chín muồi, thì bổ sung. Nhưng thực tế trong họ, ngoài làng ai cũng biết và chính vợ chú Trọng là cô Dương Thị Nga đã chủ động yêu cầu nhận cháu Thể. Đặc biệt, khi chú Hoàng Bình Trọng mất (ngày 09/12/2015, tức 28/10/Ất Mùi), cháu Ma Văn Thể cùng vợ con đến chịu tang và cùng lo tang lễ. Bởi thế, theo sáng kiến và thuyết phục của cháu Hoàng Đông Thảo, ngày 19 (Quí Dậu) tháng 11 (Canh Tý) năm Bính Thân (tức ngày 17/12/2016) chú Hoàng Văn Sơn anh trai cả của Hoàng Bình Trọng đã có lễ (trầu cau, hương hoa, trà quả) chính thức kính báo với Tổ tiên họ Ma và họ Hoàng, đón cháu Ma Văn Thể cùng vợ con về nhập họ Hoàng. Như vậy, về huyết thống đã chính thức, sau này sẽ lo thủ tục pháp lý theo qui định của pháp luật. Thế là Ma Văn Thể chính thức là con cháu họ Hoàng theo huyết thống và sẽ đổi họ Ma sang họ Hoàng là Hoàng Văn Thể, khi có điều kiện.
Hoàng Văn Thể sinh 1986, vợ là Mông Thị Hòa sinh 1990 (cháu nội ông Mông Văn Tăng) sinh ra Đời thứ 8 là:
* Hoàng Phương Thanh (2012).
(5) Hoàng Thị Quý sinh năm 1963 (Đời thứ 6) Hoàng Thị Quý sinh và lớn khôn ở thôn Cây Thị, xã Hợp Thành. Tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm về dậy học tại Trường trung học phổ thông xã Phúc Ứng (Sơn Dương). Chồng là Đinh Văn Tùng sinh 1960, tại Gia Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, theo cha mẹ lên định cư ở ở xã Phúc Ứng, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Gia đình hoạt động kinh doanh vận tải hàng hóa.
Hoàng Thị Quý và Đinh Văn Tùng có một người con là:
* Đinh Thu Trà (Đời thứ 7), sinh năm 1999 (Kỷ Mão) tại xã Phúc Ứng. Tốt nghiệp Trường Phổ thông Trung học Sơn Dương (Tuyên Quang) và theo học Đại học Luật tại Hà Nội

(6) Hoàng Văn Báu (Đời thứ 6) sinh 1965, mất năm 1972.
Hoàng Văn Báu là con trai út của ông Hoàng Thái Long và bà Lý Thị Tuất, khi sinh ra bình thường, hiền lành, vui tính, thông minh, bị chứng bệnh xương cốt yếu, không đi lại được. Năm 1972 Hoàng Văn Báu ốm và mất, mộ chí chôn trong rừng vầu, tre, nứa, núi đá ở thôn An Đinh (làng Thượng Câu), xã Kỳ Lâm, nơi Bệnh viện Sơn Dương sơ tán trong chiến tranh phá hoại của Mỹ. Ông Lý Văn Căn (em bà Lý Thị Tuất), tự tay chôn cất cháu trai Hoàng Văn Báu.

(Ông Long đã xong)

Thứ ba. CÀNH CỤ HOÀNG VĂN TÀI (Đời thứ 4)

Cụ ông Hoàng Văn Tài-Đời thứ 4. Chưa biết năm sinh, ngày Giỗ hàng năm là 5/6 âm lịch. Cụ Hoàng Văn Tài kết hôn với cụ bà Đỗ Thị Giáp (ngày Giỗ 23 tháng 3 âm lịch) ở thôn Bắc Lũng. Hai Cụ sinh ra đời thứ 5 là Hoàng Thị Tý, Hoàng Văn Sửu và Hoàng Văn Dần.

Về sau, cụ ông Hoàng Văn Tài mất sớm, cụ bà Đỗ Thị Giáp đi bước nữa, đẻ ra ông Hùng (Vườn), bà Tiến, bà Sỹ (chồng là ông Thu) ở thôn Cây Thị, Bắc Lũng thị trấn Sơn Dương hiện nay.

1.Chi bà HOÀNG THỊ TÝ (Đời thứ 5)

Bà Hoàng Thị Tý (1924-2001). Lúc đầu chưa rõ năm sinh, nhưng căn cứ tên gọi là Tý thì có thể bà sinh năm Giáp Tý (1924). Do đó, lấy năm Giáp Tý là năm sinh của bà. Bà Tý mất ngày 02/12/2001 (Tân Tỵ). Bà Hoàng Thị Tý lấy ông Ma Văn Sắc ở thôn Tứ Thông, ông Sắc mất ngày 26/3/1993 (Quí Dậu). Hai ông bà sinh ra đời thứ 6 được 4 người con:

(1) Ma Văn Chinh, vợ là Hoàng Thị Tình ở Thị trấn Sơn Dương.

(2) Ma Văn Chiến, vợ là Đỗ Thị Thanh. Nhà ở 383 đường Hoàng Diệu, Thành phố Buôn Ma Thuật, tỉnh Đăk Lăk

(3) Ma Văn Thắng, vợ là Nguyễn Thị Loan.

(4) Ma Văn Bốn, vợ là Khương Thị Hò

2. Chi ông HOÀNG VĂN SỬU (Đời thứ 5)

Ông Hoàng Văn Sửu (1925-1991). Thời kỳ đầu, con cháu cũng chưa biết năm sinh, nhưng thấy đặt tên là Sửu thì có thể ông sinh vào năm Ất Sửu (1925). Ông Hoàng Văn Sửu lấy bà Ma Thị Hiền (1922-2009), trong một gia đình có 7 chị em gái. Vì thế, ông Hoàng Văn Sửu ở rể bên nhà ngoại họ Ma. Ông Hoàng Văn Sửu và bà Ma Thị Hiền sống cùng vợ chồng người con trai út là Hoàng Văn Toản cho đến những ngày cuối đời.

Ông mất ngày 6/4/1991 (Tân Mùi). Bà Ma Thị Hiền mất ngày 15 tháng Giêng năm Kỷ Sửu (2009).

Ông Hoàng Văn Sửu và bà Ma Thị Hiền sinh được 11 người con.

(1) Hoàng Thị Kiều (Đời thứ 6)

Hoàng Thị Kiều lấy chồng là Hoàng Văn Chíu ở thôn Túc Huê, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương. Hoàng Văn Chíu có thời gian dài làm công tác Đảng ở xã Hợp Thàng, giữ chức Bí thư Đảng ủy xã Hợp Thành.

Hoàng Thị Kiều và Hoàng Văn Chíu sinh ra đời thứ 7(ngoại):
a) Hoàng Mạnh Tuyên (1971-1985)
b) Hoàng Thị Huấn, chồng là Trần Duy Khánh (con ông Trần Văn Vàng và bà Nguyễn Thị Nhẫn) sinh ra Trần Duy Hiếu (đời thứ 8). Hiện gia đình ở khu công nhân Mỏ Thiếc Sơn Dương, Tuyên Quang. Trần Duy Khánh là con ông Trần Văn Vàng và bà Nguyễn Thị Nhẫn.
c) Hoàng Thị Tuyết, chồng là Bùi Văn Giang, sinh ra đời thứ 8 là Bùi Minh Thông và Bùi Thông Minh. Hiện nay gia đình ở xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Bùi Văn Giang là con ông Bùi Văn Hải và bà Ngô Thị Vân.
d) Hoàng Mạnh Quảng, vợ là Lý Thị Tuyết sinh ra đời thứ 8 là Hoàng Thị Khánh Linh (chị) và Hoàng Thị Mỹ Linh (em)

Lý Thị Tuyết là con ông Lý Quang Sinh và bà Đỗ Thị Phúc.
e) Hoàng Thị Nhung (1983-1990)

(2) Hoàng Thị Môn (Đời thứ 6).

Hoàng Thị Môn lấy chồng là Vũ Văn Khoản (đã mất), hiện ở Thị trấn Sơn Dương. Hoàng Thị Môn và Vũ Văn Khoản sinh ra Đời thứ 7 (ngoại) được 4 người con:
a) Vũ Thị Phương, chồng là Hà Văn Cam sinh ra đời thứ 8 là Hà Thị Thảo và Hà Vũ Nguyên. Hà Văn Cam là con ông Hà Văn Nhâm và bà Đỗ Thị Thành. Hiện gia đình ở Tuyên Quang.
b) Vũ Thị Hoa, chồng là Cao Trương Mai sinh ra đời thứ 8 là Cao Vũ Hà Mi và Cao Vũ Duy Tân. Gia đình ở Sơn Dương.

Cao Trương Mai là con ông Cao Thanh Tùng và bà Nguyễn Thị Hảo.
c) Vũ Mạnh Tùng (mất khi còn trẻ)
d) Vũ Thị Hạnh, chồng là Đoàn Anh Dũng sinh ra đời thứ 8 là Đoàn Vũ Yến Nhi.. Đoàn Anh Dũng là con ông Đoàn Văn Quang và bà Dương Thị Bính. Hiện nay gia đình ở Thái Nguyên.

(3) Hoàng Thị Khanh (Đời thứ 6)

Hoàng Thị Khanh lấy chồng là Lương Văn Thủ. Lương Văn Thủ công tác ở ngành tư pháp tỉnh Hà Tuyên trước đây, sau về Tuyên Quang. Hiện nay gia đình ở Xóm 16, xã Ỷ La, thành phố Tuyên Quang.

Hoàng Thị Khanh và Lương Văn Thủ sinh ra đời thứ 7 được 3 người con:
a) Con gái là Lương Hồ Điệp sinh ra đời thứ 8 là Vũ Đình Tú.
b) Con trai là Lương Hoàng Vịnh, tốt nghiệp Học viên An ninh Hà Nội, về công tác ở Công an tỉnh; con dâu là Nguyễn Thị Mai Lan, sinh ra đời thứ 8 là Lương Hoàng Long và Lương Đại Dương.
c) Con trai là Lương Hoàng Nam, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1984. Tốt nghiệp Đại học Luật. Làm việc trong ngành Tư pháp (Tòa án Nhân dân) ở tỉnh Tuyên Quang.

(4) Hoàng Thái Hải (Đời thứ 6) sinh năm 1952, hy sinh năm 1972
Hoàng Thái Hải tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam vào chiến trường Miền Nam đánh Mỹ. Hy sinh 25/10/1972 (tức ngày 19 tháng 9 năm Nhâm Tý). Đồng đội cho biết Hoàng Thái Hải hy sinh ở Mặt trận Buôn Mê Thuật, chưa tìm thấy hài cốt và mộ chí. Con cháu hãy lưu ý điều này mà tìm mộ chí cho Hoàng Thái Hải.

(5) Hoàng Thái Việt (Đời thứ 6) sinh năm 1954, mất 2016.
Hoàng Thái Việt, tốt nghiệp Cao đẳng và Đại học Sư phạm, giáo viên trường cấp III (Sơn Dương, Tuyên Quang). Hơn ba năm làm Hiệu trưởng Trường Dân tộc Nội trú huyện Đồng Văn (Hà Giang), nhiều năm là Phó Hiệu trưởng Trường cấp II Nông trường Tân Trào. Vợ là Lê Thị Yên, tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, giáo viên trường cấp II Sơn Dương.

Hiện nay gia đình ở Tổ dân phố Quyết Thắng, Thị trấn Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Hoàng Thái Việt và  Lê Thị Yên sinh được ba người con (một gái hai trai):
a) Con gái là Hoàng Thị Yến (Đời thứ 7) sinh 1983. Tốt nghiệp Cao đăng Lao động-Thương binh Xã hội, công tác ở ngành bảo hiểm tỉnh Tuyên Quang và huyện Sơn Dương; chồng là Hà Minh Tuyên tốt nghiệp Đại học Công nghệ Thông tin, công tác ở bảo hiểm Tuyên Quang. Hà Minh Tuyên con ông Hà Thế Đô và bà Bùi Thị Cẩm.
Hoàng Thị Yến và Hà Minh Tuyên sinh ra Đời thứ 8:
* Hà Nhật Minh, sinh năm 2008 (Mậu Tý)

* Hà Minh Hiếu, sinh năm 2012 (Nhâm Thìn)

b) Con trai là Hoàng Việt Đức (Đời thứ 7) sinh năm 1985. Tốt nghiệp Cao đẳng Bách khoa Hà Nội; hành nghề hoàn thiện nội thất công trình xây dựng. Vợ là Bùi Thị Thùy Trang là con ông Bùi Đức Định và bà Lê Thị Thúy.
Hoàng Việt Đức và Bùi Thị Thùy Trang sinh ra Đời thứ 8 là Hoàng Bảo Ngọc (2016)
c) Con trai là Hoàng Việt Tiệp (Đời thứ 7) sinh năm 1987. Theo học nghề kỹ thuật, công nhân lái xe. Vợ là Trần Thị Diệp Lan, con ông Trần Đình Tuấn và bà Lê Thị Vân.

(6) Hoàng Thị Bắc (Đời thứ 6) sinh 1956
Hoàng Thị Bắc có chồng là Đào Huy Thịnh, hiện ở Thị trấn Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, sinh ra :
a) Đào Văn Duy (đời thứ 7) sinh năm 1990, Học Công nghệ Thông tin-Học viện Bưu chính Viễn thông Hà Nội. Vợ là Phan Phương Thúy sinh 1990, con ông Phan Thanh Mỹ và bà Nguyễn Thị Nghị.
Đào Văn Duy và Phan Phương Thúy, sinh ra đời thứ 8 là Đào Phan Anh (2016)

(7) Hoàng Công Khải (Đời thứ 6) sinh 1958, mất 1966

(8) Hoàng Thái Hoàn (Đời thứ 6), sinh năm 1960.
Hoàng Thái Hoàn, tốt nghiệp luật ở Trường Pháp lý TP Hồ Chí Minh, công tác ở Tòa án Nhân dân huyện Yên Sơn, Thư ký Tòa án; có thời gian chuyển lên Hà Giang làm ở Công ty Thương mại, sau về Tuyên Quang làm việc ở Công ty TNHH Hà Hương, thành phố Tuyên Quang.

Chưa lấy vợ (2016). Hiện nay ở xã An Tường, TP Tuyên Quang.

(9) Hoàng Thị Lan (Đời thứ 6), sinh năm 1962, chồng là Mai Văn Long  sinh ra đời thứ 7 là Mai Bảo Linh

(10) Hoàng Thái Tuấn (Đời thứ 6).
Hoàng Thái Tuấn sinh năm 1964. Mất ngày 18/12/2009; vợ trước tên là Trần Thị Yên sinh ra Đời thứ 7 là Hoàng Thị Thương, năm 1988, khi còn nhỏ sống theo mẹ đẻ, học y dược, kinh doanh thuốc, đã lấy chồng và sinh con; hiện nay không rõ địa chỉ.

– Vợ thứ hai Đỗ Thị Sơn, giáo viên tiểu học, không có con chung; hiện nay ở Thị Trấn Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

(11) Hoàng Thái Toản (Đời thứ 6) sinh năm 1966.
Hoàng Thái Toản, sau khi học hết phổ thông trung học, ở nhà làm ruộng, chăm sóc cha mẹ; những năm về sau là chủ các công trình thiết kế, xây cất bia mộ (âm trạch) cho những người đã mất. Sống tại ngôi nhà cha mẹ để lại và thờ cúng Tổ tiên. Vợ là Lý Thị Vỵ sinh năm 1972 cùng chồng làm ruộng và lo công việc gia đình.

Hoàng Thái Toản và Lý Thị Vỵ sinh ra Đơi thứ 7 (hai gái, một trai):
a) Hoàng Thị Quỳnh, sinh năm 1992 (Nhâm Thân). Chồng là Đỗ Trọng Huy (sinh 1991) con ông Đỗ Trọng Hùng và bà Vũ Thị Tâm.
Hoàng Thị Quỳnh và Đỗ Trọng Huy sinh ra Đời thứ 8 là Đỗ Bảo Chi (2014)
b) Hoàng Thị Như, sinh năm 1994 (Giáp Tuất). Tốt nghiệp cấp III (2012), học Trưởng Cao đẳng Sư phạm Tuyên Quang. Chồng là Nguyễn Chí Công (1990) con ông Nguyễn Văn Thắng và bà Phạm Thị Thành.
Hoàng Thị Như và Nguyễn Chí Công sinh ra Đời thứ 8 là Nguyễn Hoàng Phương Thảo (2014)
c) Hoàng Văn Phụng,sinh năm 1996 (Bính Tý).

3. Chi ông HOÀNG VĂN DẦN (Đời thứ 5)

Ông Hoàng Văn Dần lúc đầu cũng chưa rõ năm sinh. Tuy nhiên tên là Dần thì có thể ông sinh năm Bính Dần (1926), nhưng theo các con ông Dần cho biết thì lại sinh năm 1929. Khi viết Hoàng Tộc Phả này, thì ông Hoàng Văn Dần ốm nằm liệt giường, bất động, không nói được trong nhiều năm nay. Ông Hoàng Văn Dần mất khoảng thời gian 10 giờ sáng ngày 24 tháng Chín năm Nhâm Thìn (tức 07/11/2012)
Ông Hoàng Văn Dần, thời kháng chiến chống Pháp làm việc trong Văn phòng Chính phủ Kháng chiến ở ATK Tân Trào;  trực tiếp phục vụ Văn phòng giúp việc ông Phạm Văn Đồng. Hòa bình lập lại (1954), ông không về Hà Nội; ông ở lại tham gia công tác địa phương và làm ruộng.
Đối với dòng họ Hoàng ở Tứ Thông, ông Hoàng Văn Dần là một trong ba người (ông Hoàng Văn Bàn, Hoàng Văn Sửu, Hoàng Văn Dần) có công rất lớn, trực tiếp đi lấy hài cốt các cụ Tổ họ Hoàng ở Thác Dẫng đem về Tứ Thông ngày nay. Ông cũng là một trong bốn người (ông Bàn, ông Sửu, ông Dần, cháu Hồng) khởi xướng và trực tiếp đi tìm nguồn gốc họ Hoàng hồi tháng 2 năm 1975. Từ đó, đã xác định được nguồn gốc chính của Nhánh họ Hoàng Công ở Tứ Thông (Hợp Thành) và Làng Lầm (Tuân Lộ), Sơn Dương, Tuyên Quang là từ thôn Rã Lá, xã Long Đông (Bắc Sơn, Lạng Sơn) di cư sang cách nay (2010) khoảng 140-145 năm.
Ông Hoàng Văn Dần kết duyên cùng bà Nguyễn Thị Nẫm, sinh năm 1927, người Làng Kỳ Lâm. Bà Nguyễn Thị Nẫm đột ngột mất ngày 25 tháng 5 năm Tân Mão  (2011).
Ông Hoàng Văn Dần và bà Nguyễn Thị Nẫm sống cùng vợ chồng người con trai thứ hai là Hoàng Văn Minh cho đến cuối đời.

Ông Hoàng Văn Dần và bà Nguyễn Thị Nẫm sinh được 5 người con.

(1) Hoàng Thị Thanh (Đời Thứ 6)
Hoàng Thị Thanh sinh 1956; là giáo viên mẫu giáo, trước gia đình ở thôn Hồ Tiêu (thị trấn) và Cây Thị, xã Hợp Thành; sau chuyển về Thôn An Kỳ, Thị trấn Sơn Dương.

Con trai là Hoàng Trung Kiên (đời thứ 7), sinh năm 1991 (Tân Mùi), học Đại học Giao Thông Vận Tải Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp vào làm việc tại tỉnh Đồng Nai.

(2) Hoàng Văn Mai (Đời Thứ 6)
Hoàng Văn Mai sinh năm 1959; vợ là Nguyễn Thị Oanh sinh năm 1966, quê huyện Yên Sơn. Gia đình hiện nay ở thôn Cây Thị, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương. Hoàng Văn Mai và Nguyễn Thị Oanh sinh được hai người con:

a) Con trai Hoàng Văn Ngọc (Đời thứ 7) sinh năm 1986 (Bính Dần), vợ là Trần Thị Phương (năm 1989) quê Hà Tây. Hoàng Văn Ngọc và Trần Thị Phương sinh ra Đời thứ 8 là Hoàng Phương Thảo (Hoàng Thị Thảo) sinh năm 2009 (Kỷ Sửu).
b) Con gái Hoàng Thị Sen (Đời thứ 7) sinh năm 1988 (Mậu Thìn), chồng là Hoàng Văn Dũng (1987) ở Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên. Hoàng Thị Sen và Hoàng Văn Dũng sinh ra Đời thứ 8 là Hoàng Hải Đăng năm 2010 (Canh Dần). Gia đình sinh sống tại Thái Nguyên.

(3) Hoàng Văn Minh (Đời Thứ 6)
Hoàng Văn Minh sinh năm 1964; vợ là Trương Thị Mão sinh 1964 quê ở Nam Định. Gia đình  hiện ở Khuân Cuối, thôn Cây Thị, xã Hợp Thành, Sơn Dương Tuyên Quang. Hoàng Công Minh và Trương Thị Mão sinh ra Đời thứ 7 được ba người con:

a) Con trai là Hoàng Văn Mẫn sinh năm 1986 (Bính Dần), vợ là Đặng Thị Cúc sinh 1984, quê Nam Định. Hoàng Văn Mẫn và Đặng Thị Cúc sinh ra Đời thứ 8 là con gái Hoàng Yến Vi (2012). Cả hai vợ chồng làm việc trong công ty và sinh sống tại tỉnh Nam Định.
b) Con gái là Hoàng Thị Mến, sinh năm 1988 (Mậu Thìn), con rể là Phạm Tiến Thuật (1987) quê ở Hưng Yên sinh ra Đời thứ 8 là con gái Phạm Hoàng Anh năm 2012 (Nhâm Thìn) và Phạm Ngọc Anh (con gái) năm 2015. Cả hai vợ chồng làm ở công ty và sinh sống tại Hưng Yên.
c) Con gái là Hoàng Thị Mỵ, sinh năm 1990 (Canh Ngọ), chồng là Bùi Văn Duy (1988) ở Làng Xảo, cùng xã. Hoàng Thị Mỵ và Bùi Văn Duy sinh ra Đời thứ 8 là Bùi Thị Quỳnh (2015)

(4) Hoàng Công Khai (Đời Thứ 6)
Hoàng Công Khai sinh năm 1969 (1967); vợ là Lương Thị Chuyên sinh 1971. Gia đình hiện nay ở thôn Cây Thị, xã Hợp Thành, Sơn Dương, Tuyên Quang. Hoàng Công Khai và Lương Thị Chuyên sinh ra Đời thứ 7 được hai người con:

a) Con trai Hoàng Văn Khẩn, sinh năm 1993 (Quí Dậu) làm việc ở công ty tỉnh Hưng Yên
b) Con trai Hoàng Văn Khánh, sinh năm 1995 (Ất Hợi).

(5) Hoàng Thị Hạ (Đời thứ 6) mất khi còn nhỏ.

Thứ tư. CÀNH CỤ BÀ HOÀNG THỊ KHẨM (Đời thứ 4)  

Cụ bà Hoàng Thị Khẩm kết hôn cùng cụ ông Ma Văn An. Chưa tìm hiểu rõ lý do, cụ ông Ma Văn An người ở làng, xã, tổng nào hay vì một duyên cớ gì mà hai cụ sang sinh sống tại Yên Lãng (Văn Lãng), huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Cụ ông Ma Văn An và cụ bà Hoàng Thị Khẩm sinh ra Đời thứ 5 là  Ma Văn Nhất, Ma Văn Nâu; hiện nay đang sống ở Văn Lãng, huyện Đại Từ, Thái Nguyên và xã Lương Thiện, Sơn Dương, Tuyên Quang.

1. Chi ông MA VĂN NHẤT (Đời thứ 5)
Ông Ma Văn Nhất (19..?-2003) chưa rõ năm sinh; mất ngày 7/8/2003 (Qui Mùi). Gia đình hiện nay ở xã Yên Lãng (Văn Lãng), huyên Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Ông Ma Văn Nhất lấy bà Nông Thị Tâm sinh được 10 người con Đời thứ 6 gồm có:

(1) Ma Văn Trí; vợ là Ngô Thị Xuân.
(2) Ma Văn Thành; vợ là Vũ Thị Bắc.
(3) Ma Văn Đồng; vợ là Đặng Thị Mỵ
(4) Ma Thị Thật;
(5) Ma Văn Tiến; vợ là Đặng Thị Hương.
(6) Ma Văn Bởi; vợ là Hoàng Thị Dương.
(7) Ma Văn Binh, mất 28/6/2000; vợ là Phạm Thị Bích.
(8) Ma Văn Chủng; vợ là Trần Thị Bình.
(9) Ma Thị Chiến; chồng là Nguyễn Văn Quí.(10) Ma Văn Trường; vợ là Triệu Thị Sâm.

2. Chi ông MA VĂN NÂU (Đời thứ 5)
Ông Ma Văn Nâu chưa rõ năm sinh. Ông Nâu lấy bà Triệu Thị Niên. Bà Niên mất ngày 28/01/2002 (Nhâm Ngọ).

Ông Ma Văn Nâu và bà Triệu Thị Niên sinh được 5 người con Đời thứ 6 gồm có :
(1) Ma Văn Chiến; vợ là Bế Thị Liên.
2) Ma Thị Tranh; chồng là Trần Trung Lập.
(3) Ma Thị Lan; chồng là Nguyễn Văn Thủy.
(4) Ma Thị Điệp; chồng Nguyễn Văn Phùng, mất 18/10/2004
(5) Ma Thị Hồng; chồng là Ma Văn Hồng.